Tag Archives: nuoi tom

Cứu cánh nuôi tôm nuôi trải bạt

Lãi cao Anh Nguyễn Văn Việt, chủ hộ nuôi tôm ở thôn thôn Tuần Lễ, xã Vạn Thọ cho biết, thời tiết 2 vụ đầu thả nuôi nắng nóng thất thường, có thời điểm nhiệt độ đo được lên đến trên 40 độ C gây bất lợi cho việc nuôi tôm.

Cứu cánh nuôi tôm nuôi trải bạt

Do đầu tư nuôi tôm công nghệ cao, nắm vững kỹ thuật nên hạn chế được rủi ro và có lãi. 2 vụ vừa qua anh lãi hơn 1,2 tỷ đồng.

“Gia đình tôi có 2 ao nuôi, trong đó 1 ao có diện tích 1.800 m2, ao còn lại 3.500 m2. Vụ đầu đồng loạt thả giống từ ngày 12/1 (âm lịch) với khoảng 2 triệu con giống, giá đầu tư 96 – 98đ/con.

Sau hơn 2 tháng thả nuôi thu hoạch gần 30 tấn, bán với giá từ 98.000 – 120.000đ/kg, trừ chi phí tôi lãi gần 1,1 tỷ đồng.

Vụ sau thấy thời tiết phức tạp tôi thả trước 45 vạn giống cho ao 1.800 m2, sau 2 tháng thu hoạch được 5,5 tấn, bán với giá 110.000đ/kg lãi hơn 150 triệu. Sau khi xử lý ao, tôi đang thả nuôi đợt 3”, anh Việt chia sẻ.

Còn hộ ông Trần Văn Gần, người cùng thôn cũng vừa thu hoạch lứa tôm vụ 2 thắng lợi bất chấp thời tiết nắng nóng.

Gặp chúng tôi, ông Gần cho biết: “Tôi thả 62 vạn giống cho ao có diện tích 3.200 m2, sau 73 ngày thu hoạch được 11 tấn (cỡ tôm 55 con/kg), trừ chi phí còn lãi 600 triệu đồng. Đây được xem là vụ thắng lợi nhất từ trước đến nay của gia đình”.

Ông Trần Văn Khánh, Chủ tịch Hội Nông dân xã Vạn Thọ cho biết, toàn xã có hơn 42 ha nuôi tôm trải bạt từ nhiều năm nay. Do chú trọng đầu tư thâm canh cộng với nghị lực của bà con nên những năm qua việc nuôi tôm đều có lãi.

Đặc biệt từ năm 2012 – 2013 người nuôi trúng đậm, nhiều hộ thu nhập tiền tỷ. 2 vụ năm nay dù thời tiết bất lợi nhưng người nuôi vẫn thắng.

Có đến 70% diện tích thu hoạch có lãi và huề vốn. Hộ lãi ít nhất hàng chục triệu đồng, lãi nhiều lên đến hàng tỷ…

“Số diện tích nuôi tôm không có lãi do người nuôi chọn thời điểm thả giống không phù hợp hoặc nguồn giống không đảm bảo, trong quá trình nuôi bị hao hụt cao, lại bán với giá thấp”, ông Khánh nói.

Tuân thủ 3 nguyên tắc

Theo anh Việt, sở dĩ vụ tôm năm nay gia đình anh nuôi 2 vụ liên tiếp có lãi bởi tuân thủ 3 nguyên tắc, đó là quản lý nguồn nước tốt, chọn con giống thả nuôi có nguồn gốc và đầu tư nuôi thâm canh cao.

Anh Việt giải thích, nguồn nước là khâu quan trọng nhất đối với việc thành hay bại của vụ nuôi. Vùng nuôi Tuần Lễ được thiên nhiên ưu đãi, có cả nước ngọt và mặn. Các hộ đều khoan 2 giếng cả trên bờ và dưới nước để khai thác.

Tuy nhiên, để có nguồn nước nuôi chính thức, họ bơm nước mặn qua bể chứa, sau đó xử lý kỹ rồi mới bơm vào bể nuôi.

Kiểm tra độ mặn nguồn nước trong ao cao hoặc trong quá trình nuôi có sự chênh lệch, họ bơm nước ngọt vào để điều khiển độ mặn. Thông thường độ mặn chỉ cho phép từ 31 phần ngàn trở xuống.

Về con giống, theo anh Việt, cần chọn giống có nguồn gốc để khi nuôi được đảm bảo, ít dịch bệnh và nhanh lớn. Nên mua giống của các DN SX có tiếng như CP Thái Lan, Việt Úc, Anh Việt, Nam Miền Trung…

Việc đầu tư thâm canh cũng rất quan trọng. Các ao đều trải bạt, có xi phông đáy ao và đầy đủ máy móc cần thiết, kể cả máy sục khí đáy công nghệ Mỹ, với giá đầu tư 7,2 triệu đồng/giàn. Ưu điểm công nghệ này tạo oxy rất tốt, xáo trộn các tầng nước và đồng nhất chất lượng nước.

Cũng theo anh Việt, để ứng phó thời tiết nắng nóng gây bất lợi cho việc nuôi tôm 2 vụ vừa qua, anh cũng như người nuôi nơi đây đã duy trì mức nước ao nuôi ổn định từ 1,5 m.

Trang bị máy sục khí đáy ao công nghệ Mỹ.

Đồng thời kết hợp hệ thống sục khí đáy và quạt nước trong ao được tăng cường từ 4 – 6 cái hoạt động liên tục, chỉ nghỉ vài tiếng trong lúc cho ăn. Nhờ vậy đã trúng lớn.

“Việc đầu tư nuôi tôm công nghệ cao rất tốn kém, trung bình với ao nuôi có diện tích 4.000 m2 người nuôi phải bỏ từ 600 – 800 triệu đồng (tùy vị trí) để nâng nền, trải bạt và trang bị đầy đủ máy móc cần thiết để phục vụ trong quá trình nuôi”, anh Việt chia sẻ.

Ông Trần Văn Khánh cho hay, các hộ nuôi được chuyên gia trong và ngoài nước tập huấn liên tục để nuôi tôm hiệu quả. Riêng năm 2015, địa phương phối hợp các đơn vị tổ chức tập huấn 8 lớp đan xen trước và sau vụ nuôi, thu hút hơn 1.000 lượt nông dân tham gia.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cu%C3%8C%C2%81u-ca%C3%8C%C2%81nh-nuoi-tom-nuoi-trai-bat-36630.html

Kinh nghiệm sử dụng hóa chất sát trùng trong nuôi tôm

Còn nếu thời tiết về mùa đông như ở Miền Trung, Bắc thì nên xử lý TOXINPOND+ để dư lượng hóa chất sát trùng phân hủy, bay hơi hết, rồi tiến hành như trên.

Kinh nghiệm sử dụng hóa chất sát trùng trong nuôi tôm

Trong những năm gần đây, khi mà mô hình nuôi tôm thâm canh ngày càng phát triển làm cho áp lực dịch bệnh (đốm trắng, Taura, EMS,..) ngày càng tăng cao, thì việc sử dụng hóa chất sát trùng trong quá trình chuẩn bị cũng như quản lý môi trường nước ao nuôi để tôm phát triển tốt là cần thiết.

Tuy nhiên, nếu dùng hóa chất không đúng cách sẽ ảnh hưởng xấu đến môi trường ao nuôi cũng như sức khỏe tôm và chất lượng tôm nuôi, thậm chí làm tôm chết.

Vì vậy, ngoài việc áp dụng đúng quy trình kỹ thuật nuôi còn cần phải quan tâm và chú trọng nhiều hơn đến việc lựa chọn và sử dụng đúng loại, đúng liều lượng các loại hóa chất nhằm nâng cao năng suất nuôi và góp phần rất lớn trong việc ổn định môi trường, phòng ngừa dịch bệnh trong vùng nuôi, đảm bảo chất lượng sản phẩm.

Dùng hóa chất sát trùng trong ao nuôi tôm như thế nào cho đúng

* Trong giai đoạn chuẩn bị ao nuôi, người nuôi tôm thường sử dụng các loại hóa chất Iodine, KMnO4, Chlorine để sát trùng nước ao. Tuy nhiên, việc sử dụng hóa chất sát trùng phải được tiến hành trước khi thả tôm giống trong 3 – 5 ngày để hạn chế tối đa mầm bệnh do vi khuẩn, virus có trong nước.

Trong thời gian này, người nuôi phải tranh thủ ngay khi dư lượng hóa chất sát trùng phân hủy, bay hơi hết (thường trước 48 giờ), cần nhanh chóng gây màu nước, cấy vi sinh và thả tôm giống.

* Giai đoạn tôm còn nhỏ (từ khi thả tôm giống đến 45 ngày): giai đoạn này tôm rất nhạy cảm (dễ sốc, yếu, chết) với các chất sát trùng sử dụng trong ao tôm, đặc biệt lúc tôm yếu, bệnh, đặc biệt trong trường hợp tôm giống đã nhiễm Vibrio, tôm lột xác nhanh (1,5 – 4 ngày/lần), hệ miễn dịch kém, dễ nhiễm bệnh virus (đốm trắng, đầu vàng) và vi khuẩn (hoại tử gan tụy).

Mặt khác, hóa chất sát trùng còn diệt tảo, động vật phù du khiến rong đáy phát triển và thiếu thức ăn cho tôm. Vì vậy trong giai đoạn này người nuôi chỉ nên dùng hóa chất sát trùng trong trường hợp cấp thiết.

* Giai đoạn từ 45 ngày đến khi thu hoạch: giai đoạn này tôm có sức chống chịu cao hơn với hóa chất sát trùng.

Nhưng người nuôi vẫn cần cẩn thận với các hóa chất sát trùng Chlorine, KMnO4 và Idodine do tính diệt tảo và động vật phù du trong ao, ảnh hưởng đến sức khỏe, gây chết tôm đang yếu hoặc đang trị bệnh.

Không nên sử dụng hóa chất sát trùng có độ an toàn thấp khi các ao tôm xung quanh có dịch bệnh, môi trường ao dơ hoặc gần thu hoạch, nhất là lúc tôm yếu, bệnh.

Trong nuôi tôm nước lợ, người nuôi thường chỉ quan tâm tới giá cả và hiệu lực hóa chất sát trùng mà quên tác dụng mặt trái của chúng.

Nhiều hóa chất sát trùng có tác dụng diệt tảo nên khi tảo chết tiêu tốn nhiều ôxy để phân hủy, pH trong ao giảm, khí độc tăng làm tôm giảm ăn.

Mặt khác, tôm thường bỏ ăn ngay sau khi đánh hóa chất sát trùng do bị sốc hóa chất, hệ miễn dịch suy giảm và dễ nhiễm bệnh.

Do đó, hóa chất sát trùng được xem là tốt đối với ao tôm khi ít gây hại đến hệ vi sinh vật có lợi, động vật phù du và không ảnh hưởng đến sức khỏe tôm, nhất là khi tôm còn nhỏ, đang lột xác hay khi bị bệnh.

Cần lưu ý, sau khi sát trùng nước thì vi khuẩn gây hại sẽ nhanh chóng bùng phát trở lại.

Vì thế, người nuôi cần phải cấy vi sinh ngay sau 48 giờ sử dụng để giúp vi khuẩn có lợi Bacillus tạo quần thể ưu thế trước, từ đó khống chế mật độ vi khuẩn gây bệnh dưới mức nguy hiểm.

Ở điều kiện bình thường, việc sử dụng chế phẩm vi sinh định kỳ có thể lấn át vi khuẩn gây hại trong nước ao nuôi, trong trường hợp áp lực dịch bệnh cao, việc sử dụng hóa chất sát trùng là cần thiết vì giúp kiểm soát mật độ vi khuẩn có hại dưới mức nguy hiểm.

Một số tác dụng có hại của hóa chất sát trùng

– Chlorine: khi pH cao thì hiệu quả sử dụng sẽ giảm, nhất là khi pH trên 8. Khi ao nhiều mùn bã hữu cơ (do một phần Chlorine sẽ ôxy hóa chất hữu cơ) phải tăng liều, gây độc tố cho tôm và tốn kém.

Chỉ sử dụng Chlorine lúc cải tạo ao. Dùng Chlorine khó gây màu nước, làm chết tảo, dùng lâu năm đáy ao bị trơ làm nghèo hệ vi khuẩn có lợi.

– Hóa chất tím (KMnO4): không bền, giảm khả năng diệt trùng dưới ánh nắng mặt trời hoặc ở nhiệt độ cao nên cần phải bảo quản trong các lọ màu nâu đen để tránh ánh sáng trực tiếp, nên sử dụng lúc trời mát. Khi vào nước KMnO4 sẽ kết hợp với nước tạo ra MnO2 gây độc cho tôm.

– Formalin: ảnh hưởng xấu đến cơ quan hô hấp, hệ thần kinh và da.

– Iodine: mất tác dụng khi pH trên 6, nếu dùng vượt quá mức cho phép sẽ làm ao thiếu ôxy khiến tôm nổi đầu, chết hàng loạt.

– BKC: Tồn dư trong cơ thể tôm, ảnh hưởng đến giá trị xuất khẩu.

– GTA (Glutaraldehyde): rất độc với tôm cá

– TCCA (Tricholoroisocyanuric acid): Giảm tác dụng khi ao có nhiều mùn bả hữu cơ và khi pH cao, nhất là khi pH trên 8.

Lưu ý:

– Chỉ sử dụng một trong các loại hoá chất trên (hoặc hóa chất tím, hoặc Formol hoặc Chlorine, hoặc BKC, hoặc Iodine,…) và nếu sử dụng Chlorine để diệt trùng thì trước đó mấy ngày không nên sử dụng vôi vì vôi làm tăng pH, giảm khả năng diệt trùng của Chlorine.

– Tuyệt đối không được dùng Chlorine và BKC ở tháng cuối.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/kinh-nghiem-su-dung-hoa-chat-sat-trung-trong-nuoi-tom-36645.html

Bệnh đóng rong trên tôm

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH

Bệnh đóng rong, nhớt trên tôm chủ yếu do môi trường, do nguyên sinh động vật bám trên vỏ, mang và các phụ bộ của tôm làm tôm stress, nếu bị nặng thường tôm sẽ không thể lột vỏ được, sức đề kháng yếu dần tạo điều kiện thuận lợi cho các tác nhân gây bệnh cơ hội khác tấn công tôm dẫn đến sự xuất hiện của các bệnh khác.

Bệnh đóng rong trên tôm

Bệnh dễ xảy ra ở những ao nuôi có mức nước thấp, rong và tảo phát triển nhiều, những ao có đáy dơ hoặc nguồn nước xấu, nhiều chất hữu cơ, chất thải sinh hoạt hoặc chăn nuôi, các chất dinh dưỡng ngày càng tăng trong quá trình nuôi thúc đẩy sự phát triển của các sinh vật bám và sự tích tụ các vật chất vô cơ trên bề mặt cơ thể tôm, đặc biệt ở những tôm có sức khỏe kém.

Tôm yếu không thể tự làm sạch cơ thể hay cũng không lột xác bình thường như những tôm khác, vì thế trên vỏ tôm thường bị các chất dơ bẩn bám vào.

Tác nhân chính gây bệnh đóng rong nhớt trên tôm là trùng loa kèn.

Tôm bị trùng loa kèn ký sinh sẽ yếu dần, là điều kiện thuận lợi để các tác nhân gây bệnh khác tấn công gây ra các bệnh khác như: Vibrio sp., Aeromonas sp.,… tảo lam: Spirulina subsalsa, Schizthrix calcicola, tảo lục: Enteromorpha sp., tảo khuê: Amphora sp., Nitszchia sp., nấm Fusarium sp., vi khuẩn dạng sợi Leucothrix spp., và các nguyên sinh động vật khác.

* Trùng Loa Kèn

Lớp: Peritricha Stein, 1859

Bộ: Peritrichida F.Stein, 1859

Họ: Vorticellidae

Giống: Vorticella

Loài: Vorticella sp.

Giống: Zoothamnium

Loài: Zoothamnium sp.

Họ: Epistylididae Kahl, 1933

Giống: Epistylis Ehrenberg, 1836

Loài: Epistylis sp.

Đặc Điểm Cấu Tạo

Cơ thể phía trước lớn, phía sau nhỏ, có hình loa kèn, hình chuông lộn ngược, nên có tên gọi là trùng loa kèn. Phía trước cơ thể có 1 – 3 vòng lông rung và khe miệng. Phía sau ít nhiều đều có cuống để bám vào bất kỳ giá thể nào. Một số giống hình thành tập đoàn (Epitylis, Zoothamnium), các cá thể liên kết với nhau bởi nhánh đuôi. Trùng loa kèn lấy dinh dưỡng bằng cách lọc trong môi trường nước.

Giống Vorticella (Hình A): cơ thể sống đơn độc, tế bào đính vào giá thể bằng một cuống hình trụ mảnh, xoắn lò xo có thể co rút được. Tế bào có dạng hình chuông lộn ngược. Phía trước thường rộng hình đĩa, có 1 vùng lông xoắn ngược chiều kim đồng hồ, hướng tới miệng. Cơ thể không màu hoặc màu vàng, xanh, có một nhân nhỏ và một nhân lớn hình dải, có 1 – 2 không bào co rút.

Giống Zoothamnium (Hình B): cấu tạo tế bào tương tự Vorticella tuy nhiên những loài của giống này sống tập đoàn, mỗi tập đoàn có vài hoặc rất nhiều tế bào. Cuống phân nhánh dạng lưỡng phân đều. Cuống có khả năng co rút (mynemes) không liên tục trong tập đoàn, nên mỗi nhánh co rút riêng rẽ.

Giống Epistylis (Hình C):Cấu tạo tế bào gần tương tự như Zoothamnium. Nhân lớn của chúng tương đối ngắn, có dạng xúc xích. Đặc điểm chủ yếu khác với Zoothamnium là cuống không co rút. Bản thân tế bào có thể co hoặc duỗi vòng lông rung ở phía trước miệng vào trong lòng cơ thể. Cuống phân nhánh so le hoặc đều. 

Hình ảnh: Trùng loa kèn ký sinh gây bệnh đóng rong trên tôm.

Đặc Điểm Sinh Sản

Trùng loa kèn sinh sản vô tính bằng hình thức cắt đôi theo chiều dọc cơ thể hoặc sinh sản hữu tính bằng hình thức tiếp hợp.

ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH

Phân Bố Của Mầm Bệnh Và Mùa Vụ Xuất Hiện Bệnh

* Trùng loa kèn phân bố rộng trong tất cả các thủy vực nước ngọt, nước lợ, nước mặn và có ở khắp nơi trên thế giới.

* Ở Việt Nam có thể bắt gặp trùng loa kèn ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam.

* Bệnh đóng rong thường xuất hiện vào mùa xuân, mùa thu, mùa đông ở miền Bắc, mùa mưa ở miền Nam. Bệnh xuất hiện từ giai đoạn tôm giống đến tôm trưởng thành, đặc biệt là vào những tháng cuối của vụ nuôi. Bệnh thường xảy ra ở những ao nuôi có chất lượng nước kém, đáy ao dơ do cải tạo ban đầu chưa kỹ hoặc phát sinh nhiều bùn đáy trong quá trình nuôi.

Cơ Chế Gây Bệnh

Trùng loa kèn bám trên vỏ, trên mang, và các phụ bộ của tôm, phá hoại tổ chức tế bào mang, làm cho tơ mang bị rách, làm tổn thương phụ bộ, gây cản trở hô hấp và sinh trưởng, làm tôm suy yếu tạo điều kiện cho các tác nhân cơ hội khác xâm nhập và gây bệnh.

Dấu Hiệu Nhận Biết Bệnh

Dấu hiệu dễ nhận biết của bệnh đóng rong là tôm bị dơ, đóng rong, nhớt. Trên một phần hoặc toàn bộ cơ thể bị phủ một lớp rong rêu màu xanh đen tập trung ở phần đầu ngực, mang và các phụ bộ.

Tôm hoạt động khó khăn, bỏ ăn, yếu, ít di chuyển và cặp mé bờ, đồng thời mang thường bị tổn thương hoặc biến đổi màu sắc, khó lột vỏ, còi cọc và chậm lớn.

Bệnh nặng sẽ phá hủy vỏ tôm, xâm nhập vào cơ thịt tôm. Nếu vào cuối chu kỳ nuôi thì màu sắc tôm thương phẩm xấu, giảm giá trị. Ở giai đoạn ấu trùng của tôm, trùng loa kèn cản trở sự hoạt động của ấu trùng và gây chết rãi rác.

Phương Pháp Chẩn Đoán

* Chẩn đoán lâm sàng: Dựa vào dấu hiệu bệnh lý của tôm.

* Chẩn đoán phòng thí nghiệm: Kiểm tra trùng loa kèn bằng cách soi tươi dưới kính hiển vi. Quan sát trên kính hiên vi > 40x để thấy rõ được hình thái của ký sinh trùng.

BIỆN PHÁP PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH

Biện Pháp Phòng Bệnh

– Cải tạo ao triệt để, đúng quy trình kỹ thuật.

– Có ao chứa lắng để chủ động cung cấp nước đã xử lý cho ao nuôi khi cần thiết.

– Mực nước tối thiểu trong ao nuôi phải > 1m.

– Thả giống với mật độ vừa phải.

– Quản lý chất lượng nước nuôi chặt chẽ, định kỳ sử dụng chế phẩm sinh học MEN VI SINH ONE hoặc DEODORANTS để cải thiện chất lượng nước.

– Quản lý cho ăn chặc chẽ, không cho ăn thừa tạo điều kiện cho rong tảo phát triển.

– Không nên để mật độ tảo dày kéo dài.

– Định kỳ diệt ký sinh trùng bằng GUARSA.

– Theo dõi tình trạng sức khỏe của tôm để có biện pháp xử lý kịp thời.

*Tạo điều kiện thuận lợi giúp tôm lột xác đúng chu kỳ:

– Định kỳ bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng để tăng cường sức khỏe cho tôm, như CALCIPHORUSMIRAMIXPREMIX,C Mix 25%.

– Cung cấpđầy đủ oxy, khi cần thiết có thể dùng OXY BETTER giúp tôm dễ dàng lột xác hơn.

– Giảm hàm lượng H2S trong ao bằng AQUA BIO BZT.

– Giảm độ nhớt nước bằng TOXINPOND khi cần thiết.

Biện Pháp Trị Bệnh

– Cắt tảo bằng ALGAE RV 100g/1.000m3 nước vào 9 giờ sáng khi trời có nắng.

– Tăng cường thay nước (đã xử lý ) 20 – 30% mỗi ngày nhằm cải thiện môi trường. – Kích thích tôm lột xác bằng WELL SAPONIN 10kg/1.000m3 nước.

– Nếu tỷ lệ nhiễm cao, dùng BIOXIDE 150 1L/1.000m3 nước sau đó thay nước, lặp lại lần thứ 2 nếu đóng rong vẫn còn.

* Chú ý: Sử dụng các sản phẩm trên vào ban ngày và tăng cường quạt nước sau khi sử dụng.

– Sử dụng BACBIOZEO (hạt) 2kg/1.000m3 hoặc ZEOLITE 20kg/1.000m3 để giảm khí độc phân hủy chất hữu cơ trong ao.

– Cấy vi sinh AQUA BIO BZT 50g/1.000m3 nước hoặc MEN VI SINH ONE 1,5kg/1000m3 nước để phân hủy xác tảo, làm sạch môi trường.

– Trộn MUNOMAN 3g/kg thức ăn, BIOTICBEST 10g/kg thức ăn để tăng cường sức khỏe cho tôm.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/benh-dong-rong-tren-tom-36654.html

Những điều cần lưu y khi nuôi tôm trong giai đoạn chuyển mùa

Tuy nhiên, tôm cũng là loài nuôi dễ mẫn cảm với sự thay đổi đột ngột của các chỉ số môi trường, kết quả là tôm sẽ bị yếu, sốc và có thể chết hàng loạt.

Những điều cần lưu y khi nuôi tôm trong giai đoạn chuyển mùa

Do đó, trong giai đoạn chuyển mùa khi nắng nóng kéo dài và đột ngột xuất hiện mưa trái vụ là điều kiện gây ra những ảnh hưởng bất lợi đối với tôm nuôi.

Vì vậy người nuôi cần đặc biệt lưu ý chăm sóc quản lý ao nuôi bằng những phương pháp quản lý ao hiệu quả.

Tác động đầu tiên dễ thấy khi nắng nóng kéo dài là nước ao bốc hơi nhanh làm tăng độ mặn tôm dễ bị nhiễm các bệnh do vi khuẩn và chậm lớn do tôm khó lột xác.

Mực nước trong ao tụt giảm, mực nước ao thấp hơn, làm cho các chỉ số môi trường trong ao như nhiệt độ, pH dao động mạnh trong ngày, tăng độ đục, làm tôm bị sốc, đề kháng yếu, giảm sức sống.

Hơn nữa độ mặn cao kết hợp với thời tiết nắng nóng tạo điều kiện cho tảo và rong đáy phát triển mạnh, cạnh tranh môi trường sống và oxy với tôm nuôi, gây hiện tượng tôm nổi đầu vào sáng sớm thậm chí gây chết hàng loạt.

Các chỉ số môi trường như nhiệt độ, pH, độ trong,…càng biến động đột ngột hơn khi xuất hiện mưa đầu mùa. Nước mưa sẽ rửa trôi phèn làm giảm pH nước, gây hiện tượng phân tầng nước trong ao,…làm tăng mức độ stress, giảm đề kháng và tăng nguy cơ dịch bệnh trên tôm. Vì vậy để đảm bảo sức khỏe cho tôm hạn chế rủi ro khi nuôi tôm trong giai đoạn chuyển mùa cần lưu ý:

– Thả giống với mật độ vừa phải 50 – 70 con/m2. Ao nuôi chỉ nên chiếm 40% diện tích vùng nuôi.

– Bố trí ao lắng, dự trữ nước xử lý đúng quy trình, sẵn sàng cấp vào ao nuôi khi cần thiết.

– Duy trì mực nước trong ao trên 1,2 m, theo dõi và quản lý chặc chẽ các chỉ số môi trường, nhiệt độ, pH, oxy hòa tan, độ mặn,… giảm thiểu biến động chất lượng nước ao nuôi.

– Thường xuyên kiểm tra gia cố bờ ao tránh để nước rò rỉ hoặc xâm nhập nước từ trong ra bên ngoài và ngược lại.

– Cấp nước đã xử lý từ ao lắng vào ao để bù lượng nước đã bốc hơi do nắng nóng. Cấp nước từ từ vào ao vào thời điểm trời mát khoảng sau 7 giờ tối, mỗi lần cấp khoảng 20 – 30% lượng nước trong ao.

– Khi thấy có dấu hiệu xuất hiện mưa cần rải vôi quanh bờ ao để hạn chế phèn rửa trôi xuống ao nuôi, ổn định kiềm và pH.

– Sau khi mưa phải kiểm tra các chỉ số môi trường để kịp thời điều chỉnh, xả bỏ lớp nước mặt, quạt nước để đảo trộn nước, phá vỡ sự phân tầng nước trong ao nuôi.

– Định kỳ sử dụng chế phẩm sinh học giúp ổn định môi trường, hạn chế khí độc trong ao, tăng cường sức khỏe tôm.

– Điều chỉnh lượng ăn theo tình hình sức khỏe tôm, tránh cho ăn thừa.

– Nên có nhật ký nuôi tôm ghi chép lại các hoạt động hàng ngày tiện cho việc theo dõi tình trạng ao cũng như sức khỏe tôm nuôi.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nhung-dieu-can-luu-y-khi-nuoi-tom-trong-giai-doan-chuyen-mua-36653.html

Tác nhân gây bệnh vi bào tử trùng trên tôm và giải pháp phòng trị bệnh

Trong đó có khoảng 30 loài ký sinh và gây bệnh trên giáp xác, làm giảm sinh trưởng, phát triển và giảm giá trị thương phẩm của sản phẩm thủy sản.

Tác nhân gây bệnh vi bào tử trùng trên tôm và giải pháp phòng trị bệnh

Tác Nhân Gây Bệnh

Bệnh vi bào tử trùng Microsporidosis gây ra bởi ký sinh trùng Microsporidian. Bệnh đã được báo cáo trên rất nhiều loài tôm he Penaeidae khác nhau: Penaeus monodonP. merguiensisP. setiferuP. Vannamei,…(Sprague và Couch, 1971).

Bệnh này còn được gọi bằng các tên khác như: bệnh vi bào tử ở tôm he (Microsporidia diseasse), bệnh tôm sữa (Milk disease, Milky shrimp), bệnh tôm bông (Cotton shrimp) hoặc tôm lưng trắng (White back). Hiện nay đã phát hiện có 3 giống vi bào tử thường ký sinh gây bệnh ở tôm he gồm.

Giống: Thelohania (Agmasoma) Hennguy, 1892

Giống Pleistophora Gurley, 1893 (Plistophora)

Giống Ameson (Nosema).

* Đặc điểm cấu tạo

Các giống vi bào tử ký sinh trên tôm có cấu tạo cơ thể rất đơn giản, tương tự như Glugea.

Bên ngoài có màng do chất kitin tạo thành, có cực nang hình dạng giống bào tử, bên trong có sợi tơ. Loài Glugea intestinalis có cực nang dài bằng chiều dài cơ thể.

Trong tế bào chất của vi bào tử có hạch hình cầu và tế bào chất cũng có hình cầu.

Hình 1: Cấu tạo vi bào tử Glugea (Nguồn Bychowsky, 1962).

* Chú thích: Pt – Sợi tơ; e – màng ngoài bào tử; en – màng trong bào tử; n – nhân tế bào; v – không bào phía sau.

* Đặc điểm của chu kỳ sống

Các vi bào tử gây bệnh cho tôm là các sinh vật ký sinh bắt buộc, thường có chu kỳ phát triển khá phức tạp. Tôm là ký chủ trung gian của vi bào tử trùng. Vật chủ cuối cùng là các loài cá ăn tôm.

Theo kết quả của một thử nghiệm cho thấy khi dùng xác của tôm chết vì bệnh vi bào tử trộn vào thức ăn cho cá hồi biển, sau đó thu lấy phân cá hồi, trộn vào thức ăn cho tôm, bệnh đã phát sinh ở đàn tôm nuôi thí nghiệm sau một khoảng thời gian ngắn.

Như vậy, trong hệ thống nuôi giáp xác, sự có mặt của các loài cá, hoặc dùng cá tạp làm thức ăn cho tôm, chính là nguồn lây bệnh vi bào tử cho tôm cua nuôi.

Đặc Điểm Của Bệnh

* Phân bố lan truyền

Bệnh phân bố ở khắp các vùng nuôi tôm he trên phạm vi toàn thế giới. Ở Việt Nam bệnh vi bào tử cũng đã xuất hiện trên diện tích rộng ở các vùng nuôi tôm trọng điểm miền Tây Nam bộ gây tổn thương tế bào gan, tụy ở tôm.

* Dấu hiệu bệnh lý:

Tôm bị bệnh thường giảm ăn, chậm phát triển kèm theo sự xuất hiện các vùng cơ có màu trắng đục hay trắng sữa. Hiện tượng trắng đục dễ nhận biết nhất khi chúng xuất hiện tại vùng cơ vân ở phần bụng.

Ở tôm lớn dấu hiệu lâm sàng trên càng dễ dàng quan sát hơn, đặc biệt ở phần lưng từ gan tụy đến phần giữa thân hoặc đục cơ ở phần đốt cuối cơ thể.

Hình 2: Tôm bị vi bào tử trùng ký sinh

Tôm 30 ngày thả nuôi bị nhiễm bệnh có sự hình thành những đám màu trắng lớn, vi bào tử trùng thay thế dần cho hệ gan tụy và các cơ quan khác bao gồm dạ dày và cơ của tôm.

Các dấu hiệu của tôm bệnh ở giai đoạn 45, 60, 75, 90, 105 và 120 ngày tuổi cho thấy mức độ lây nhiễm vi bào tử trùng càng trở nên nghiêm trọng hơn khi chúng gần như thay thế hoàn toàn hệ gan tụy. Ống gan tụy của những con tôm bị nhiễm bệnh nặng bị giãn rộng và hoại tử.

* Quá trình diễn tiến của bệnh:

Bệnh bào tử trùng bắt đầu xuất hiện trong ao tôm trong giai đoạn 15 – 20 ngày sau khi thả giống. Sự lây lan bệnh diễn ra mạnh nhất ở giai đoạn 40 – 50 ngày sau khi thả giống.

Số lượng tôm nhiễm bệnh tăng dần cho đến 60 ngày tuổi, có thể bởi vì ở tôm lớn thì vi bào tử trùng thay thế phần lớn cơ thịt và các cơ quan khác, do đó mà những mảng trắng đục sẽ dễ dàng quan sát hơn so với tôm còn nhỏ.

Tôm bị nhiễm vi bào tử trùng nặng thường bị mềm vỏ và chậm lớn hơn những con tôm mạnh khỏe.

Tỷ lệ phát hiện tôm bệnh trong chài thấp hơn rất nhiều so với tỷ lê tôm bệnh trong sàng ăn.

Điều này cho thấy những con tôm bị bệnh không thể cạnh tranh với những con tôm mạnh khỏe trong thời gian cho ăn, vì thế chúng thường tìm đến sàng ăn.

Chính vì thế mà việc đánh giá tỷ lệ tôm bệnh bằng cách chài sẽ chính xác hơn là đánh giá qua sàng ăn.

Tỷ lệ bệnh giảm nhẹ ở giai đoạn 80 – 90 ngày tuổi và đột ngột suy giảm nhanh chóng ở giai đoạn 105 ngày tuổi. Đến thời điểm thu hoạch chỉ còn một ít tôm bị bệnh được tìm thấy với dáu hiệu đục cơ từ phần đầu ngực đến giữa thân ở mặt lưng.

Trong giai đoạn này, có thể do tôm bệnh đã chết dần, và khi tôm lớn sức đề kháng bệnh tốt hơn nên tỷ lệ nhiễm bệnh giảm.

Phương Pháp Chẩn Đoán

* Chẩn đoán lâm sàng

Dựa vào dấu hiệu bệnh lý của bệnh như đục mờ cơ, các cơ vân chuyển sang màu trắng đục.

* Chẩn đoán phòng thí nghiệm

Kiểm tra mẫu bệnh phẩm dưới kính hiển vi lấy từ vùng cơ trắng đục ở độ phóng đại > 400 lần.

Biện Pháp Phòng Và Trị Bệnh

Phòng bệnh:

– Cải tạo ao, xử lý đáy và khu vực xung quanh ao thật kỹ, diệt địch hại, ký chủ trung gian mang mầm bệnh bằng GUARSA.

– Diệt cá tạp bằng WELL SAPONIN.

– Dùng GUARSA xử lý nước trước khi cấp vào ao.

– Không dùng tôm bố mẹ nhiễm vi bào tử tham gia sinh sản trong các trại giống, trong ao nuôi tôm thương phẩm, cần phát hiện sớm để loại bỏ những con tôm bị nhiễm vi bào tử ra khỏi quần đàn.

– Định kỳ 7 – 10 ngày cung cấp hệ vi sinh và enzyme có lợi bằng AQUA BIO BZT, BACPOWER tạo môi trường sống thuận lợi cho tôm.

-Thường xuyên bổ sung C MIX 25%, BIOTICBEST, BIOZYM-S, HEPAVIROL Plus, MUNOMAN vào thức ăn giúp tăng cường sức khỏe, tăng cường hoạt động hệ miễn dịch của tôm.

– Tạt khoáng MIRAMIX N10 hoặc CALCIPHORUS định kỳ.

* Trị bệnh:

Thay nước vào ao sẽ làm giảm đáng kể sự lây lan của bệnh.

Sử dụng GUARSA 0,3 – 0,8 kg/1000 m3 nước .

Sau 24 giờ, cấy lại vi sinh AQUA BIO BZT, DEODORANTS hoặc BACPOWER để tăng cường vi sinh có lợi cho ao.

Bổ sung dưỡng chất C MIX 25%, BIOTICBEST, BIOZYM-S, HEPAVIROL Plus, MUNOMAN vào thức ăn giúp tăng cường sức khỏe, tăng cường hoạt động hệ vào thức ăn, giúp tăng cường sức khỏe, giúp tôm mau hồi phục.

Tạt khoáng MIRAMIX N10 hoặc CALCIPHORUS.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/tac-nhan-gay-benh-vi-bao-tu-trung-tren-tom-va-giai-phap-phong-tri-benh-36660.html

Phương pháp phòng và trị bệnh do vi khuẩn Vibrio sp gây bệnh gan tụy, EMS, phân trắng trên tôm và nguồn nước ao nuôi

A.Cách nhận biết Vibrio sp

Phương pháp phòng và trị bệnh do vi khuẩn Vibrio sp gây bệnh gan tụy, EMS, phân trắng trên tôm và nguồn nước ao nuôi

Môi trường đặt trưng 

STT 

Tên chủng 

Gây bệnh 

Đặt điểm nhận biết 

V. cholera, V.vulnificus 

Phân trắng 

Khuẩn lạc màu vàng, kích thước lớn 

V. parahaemolyticus 

Hoại tử gan tụy (EMS/AHPNS) 

Khuẩn lạc màu tím 

V. alginolyticus 

Bệnh đỏ dọc thân, phân trắng 

Khuẩn lạc nhầy màu vàng, kích thước lớn 

V. harveyi,

V.fischeri 

Bệnh phát sáng 

Xám xanh khuẩn lạc xanh-màu xanh lá cây mà hiện tượng phát quang trong bóng tối 

B.Phương pháp và Phòng trị

GIẢI PHÁP 1: DIỆT KHUẨN VIBRIO SP GÂY BỆNH TRONG AO TÔM

Khi thấy trong ao chứa mật độ vi khuẩn Vibrio sp (Vibrio parahaemolyticus, V. vulnificus, V. cholera, V. alginolyticus) cao, tôm bị bệnh gan tụy, phân trắng thì tiến hành diệt khuẩn sau:

Cách 1: Dùng sản phẩm GUARSA

·        GUARSA liều 0,6 – 1 kg/1000 m3 nước, ngày 1 lần, lúc 8- 9 giờ sáng. Có thể lặp lại lần 2 sau 24 giờ dùng nếu chưa sạch khuẩn. Sau 48 giờ cấy lại men vi sinh Bacpower hay Pondozy No2

Cách 2: Dùng sản phẩm DOHA or WUNMID

·        DOHA liều 1 lít/4000 m3 nước, hoặc WUNMID liều 1 kg/3000 m3 nước, ngày 1 lần, lúc 5- 6 giờ chiều. Có thể lặp lại lần 2 sau 24 giờ dùng nếu chưa sạch khuẩn. Sau 48 giờ cấy lại men vi sinh Bacpower hay Pondozy No2

GIẢI PHÁP 2: KIỂM SOÁT VI KHUẨN VIBRIO SP GÂY BỆNH TRONG RUỘT VÀ GAN TÔM.

Cách 1: Kiểm soát bằng sinh học; sản phẩm SENCID, MUNOMAN (nếu tôm bị nhiểm bệnh tỷ lệ

·        Trôn cho ăn SENCID: liều20g/kg thức ăn, ngày 2 lần, cữ sáng và chiều.

·        Trôn cho ăn MUNOMAN:  liều 10g/kg thức ăn, ngày 2 lần, cữ trưa và tối.

Cách 2: Kiểm soát bằng kháng sinh; sản phẩm HILORO và TRASOL LA

·        Trộn cho ăn HILORO:  liều 5 ml/kg thức ăn, ngày 1 lần, cữ sáng, liên tục 5 ngày.

·        Trộn cho ăn TRASOL LA:  liều 10 ml/kg thức ăn, ngày 1 lần, cữ tối, liên tục 5 ngày.

Chú ý: – Nên kết hợp cả 2 giải pháp trên để tăng hiệu quả phòng và trị

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/phuong-phap-phong-va-tri-benh-do-vi-khuan-vibrio-sp-gay-benh-gan-tuy-ems-phan-trang-tren-tom-va-nguon-nuoc-ao-nuoi-36667.html

Các biện pháp môi trường trong nuôi tôm

Môi trường nuôi

Duy trì môi trường nuôi tốt là một trong những nguyên tắc cơ bản kiểm soát dịch bệnh, giảm stress (sự căng thẳng làm giảm sức đề kháng bệnh) cho thủy sản nuôi.

Cách tốt nhất để duy trì một môi trường nuôi tốt là thả số lượng post-larvae phù hợp với tiềm năng sản suất của hệ thống nuôi; cách này sẽ thay đổi chủ yếu tùy vào số lượng hệ thống sục khí sử dụng và việc thực hiện quy trình thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (GAP).

Tuy nhiên, do GAP có thể không luôn đảm bảo rằng chất lượng nước có thể chấp nhận được, do đó chất lượng nước ao nên được tiến hành theo dõi.

Các biến số quan trọng nhất cần theo dõi là oxy hòa tan, pH, độ mặn, ammonia nitơ và hydrogen sulfide (pS). Sự dao động pH hàng ngày lớn cho thấy thực vật phù du phát triển quá mức hoặc cần phải bón vôi để tăng độ đệm cho nước.

Thường thì các biến số khác sẽ không ra ngoài các giới hạn cho phép, trừ khi hệ thống sục khí không đáp ứng đủ cho lượng thức ăn đầu vào được sử dụng.

Chất lượng nước kích khởi EMS / AHPNS

pH trong các ao nuôi tôm thường cao, vì vậy giả thuyết về pH cao kích khởi EMS nên được chứng minh bởi các nghiên cứu sâu hơn.

Theo lôgic, bất kỳ biến đổi nào về chất lượng nước ở mức gây căng thẳng có thể làm tăng khả năng nhiễm bệnh cho tôm bao gồm cả EMS.

Như vậy, nên xem xét pH cũng như khả năng gây stress do các vấn đề khác của chất lượng nước là các cơ chế có thể kích khởi (gây) bệnh.

Probiotic (men vi sinh) trong nuôi tôm

Mặc dù là có việc sử dụng nhiều sản phẩm probiotic – men vi sinh trong nuôi tôm, nhưng không có bằng chứng nào chắc rằng việc bổ sung này cải thiện các điều kiện môi trường trong ao.

Probiotic (men vi sinh) không nên có hại cho môi trường nuôi hoặc cho tôm và cũng không có lý do gì để ngăn cản những người nuôi đang tin tưởng vào các sản phẩm probiotic khỏi việc sử dụng này.

Tuy nhiên, probiotic ( ) không nên được khuyến nghị như là một biện pháp có thể để giảm thiểu nguy cơ EMS / AHPNS trừ khi có thực hiện nghiên cứu và có bằng chứng cho thấy hiệu quả của nó cho mục đích này.

Tẩy trùng nước trong ao nuôi tôm

Nhiều hợp chất được sử dụng để tẩy trùng nước trong nuôi tôm trước khi thả tôm vào ao và để tẩy trùng cả lượng nước bù đắp cho ao mỗi khi bay hơi và bị thấm trong ao.

Chlorin được sử dụng rộng rãi để tẩy trùng nguồn nước cấp đô thị và đã có một vài nghiên cứu cho thấy các hợp chất Chlorin có thể là chất tẩy trùng hiệu quả khi được sử dụng ở hàm lượng 20 đến 30 mg/l trong nguồn nước cấp cho nuôi tôm.

Các hợp chất khác được sử dụng làm chất tẩy trùng trong nuôi tôm chưa được nghiên cứu.

Liều lượng hiệu quả của chất tẩy trùng thông thường sử dụng trong nuôi tôm nên được đưa ra thông qua xét nghiệm sinh học vi khuẩn.

Thuốc trừ sâu

Một số loại thuốc trừ sâu được sử dụng trên ruộng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long – đặc biệt loại thuốc trừ sâu tổng hợp thuộc nhóm pyrethroid “thế hệ mới” gây độc tính cao cho tôm.

Cần phải thực hiện các nghiên cứu về mối quan hệ giữa dư lượng thuốc trừ sâu ở bùn đáy ao và nước, sự căng thẳng của tôm, khả năng dễ bị nhiễm EMS / AHPNS và các loại bệnh tôm khác.

Tôm sú ấu niên Penaeus monodon bị nhiễm EMS/AHPNS ở Việt Nam. Gan tụy nhợt nhạt và teo, đường ruột rỗng.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cac-bien-phap-moi-truong-trong-nuoi-tom-36674.html

Các quy trình thực hành quản lý tốt trong nuôi tôm – Phần II

31. Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên khan hiếm và rất quý giá. Cố gắng tối đa hóa hiệu suất sử dụng nước.

Các quy trình thực hành quản lý tốt trong nuôi tôm – Phần II

32. Cẩn thận khi thay nước. Không thay nước hoặc bơm nước vào trong ao thường xuyên.

33. Không nên thay nước trong tháng đầu tiên. Nếu cần thiết có thể thay nước vào tháng thứ hai nhưng cố gắng giảm thiểu thì càng tốt.

34. Tháo nước khi thực vật phù du phát triển (nở hoa) quá dày, nghĩa là nước có màu xanh lá cây đậm hoặc nước màu nâu sẫm.

35. Khi tháo nước, gây nhiễu động ở phần dưới đáy ao gần cổng thoát nước để bỏ đi các chất thải hữu cơ có màu đen từ trong ao.

36. Không tháo nước hoặc thay nước vượt quá 15 – 30 cm độ sâu của ao trong một ngày.

37. Chỉ lấy nước vào ao khi trong khu vực nuôi không nhiễm bệnh.

38. Luôn luôn sử dụng lưới lọc hai lớp có mắt lưới mịn hoặc kích cỡ mắt lưới 300 µm để lọc nước đưa vào ao.

39. Sử dụng vôi nông nghiệp sau mỗi lần lấy nước hoặc thay nước và sau khi mưa. Vôi có tác dụng là chất đệm cho nước.

40. Nếu có bọt trên bề mặt nước hoặc nếu màu nước đột nhiên thay đổi hoặc trở nên trong thì thay 5 – 10 cm nước và bón thêm vôi nông nghiệp với liều lượng 200 – 300 kg mỗi ha.

41. Thường xuyên kiểm tra các thông số chất lượng nước.

42. pH của nước nên trong khoảng 7,5 đến 8,5. Để đo pH sử dụng chất chỉ thị phổ biến dạng lỏng hoặc giấy quỳ. Nếu pH thấp hơn 7,5 thì sử dụng vôi vỏ sò để tăng pH. Nếu pH cao hơn 8,5 thì thay nước để giảm pH.

43. Độ mặn của nước lý tưởng cho tôm là 10 – 25 ppt. Sử dụng máy đo độ mặn.

44. Hàm lượng oxy hòa tan (DO) nên trong khoảng 5 – 6 ppm. Có thể sử dụng máy đo DO điện tử để đo hàm lượng oxy hòa tan trong nước.

Nếu cạn kiệt oxy trong ao, tôm sẽ bắt đầu bơi trên mặt nước đặc biệt là vào buổi sáng sớm. Hàm lượng oxy hòa tan dưới 4 ppm sẽ gây căng thẳng cho tôm.

Do đó, nếu ở mức dưới 4 ppm đặc biệt là ban đêm và vào buổi sáng sớm thì chạy sục khí bánh guồng hoặc máy bơm nước để thông khí nước bằng cách phun nước khắp mặt ao.

Nếu không có dịch bệnh trong vùng nuôi thì có thể thay nước để nâng oxy hòa tan.

45. Màu nước nên có màu xanh lá cây hoặc màu nâu cho thấy thực vật phù du phát triển tốt. Nước không nên đục hoặc trong hoặc màu nâu hoặc màu xanh lá cây sẫm. Điều này cho thấy hoặc thực vật phù du không phát triển hoặc phát triển quá dày, cả hai tình trạng đều không nên xảy ra trong ao.

46. Kiềm nên ở mức 100 ppm. Có thể sử dụng kit kiểm tra độ kiềm tức thời để đo hàm lượng kiềm.

47. Ammoniac phải thấp hơn 0,1 ppm. Có thể đo bằng kit kiểm tra ammoniac tức thời.

48. Hydrogen Sulfide phải là 0 ppm. Có thể đo bằng kit kiểm tra Hydrogen Sulfide tức thời.

49. Loại bỏ tảo đáy khi nó phát triển trong ao. Nếu không loại bỏ được, nó sẽ phân hủy ở đáy ao và giải phóng khí độc gây căng thẳng cho tôm.

50. Cũng thường xuyên cần loại bỏ tảo sợi và hydrilla (rong đuôi chồn, rong đen, rong gai, hắc tảo) từ ao. Nếu không loại bỏ được, tôm có thể bị vướng vào các sợi tảo và chết. Cá măng có thể hiệu quả để loại bỏ tảo này.

51. Thường xuyên theo dõi sức khỏe và mức tăng trưởng của tôm. Có thể kiểm tra bằng cách lấy 10 – 15 con tôm từ khay thức ăn hàng ngày hoặc quăng chài tôm hàng tuần.

52. Tôm phải sạch với màu sắc cơ thể bình thường, không mất bất kỳ chân hay râu. Đường ruột phải đầy.

Nếu vỏ hoặc mang tôm bị bẩn thì có nghĩa là đáy ao không sạch. Cách khắc phục là cho thức ăn sang chỗ đáy sạch hơn và thay khoảng 10 cm nước rồi bón vôi nông nghiệp ở mức 200 kg/ ha.

53. Nếu tìm thấy trên mặt nước tôm bị phân trắng hay tôm bệnh hoặc tối màu thì kiểm tra xem mang chúng có bị bẩn hoặc đen, nếu có thì giảm lượng thức ăn và thay 10 cm nước.

54. Nếu phát hiện bệnh trong ao, trên cơ sở ghi chép hàng ngày về số lượng tôm bệnh hoặc chết.

Nếu tỷ lệ chết hàng ngày vẫn ở mức thấp, 5 con mỗi ngày, hoặc giảm xuống, thì không cần thu hoạch khẩn cấp. Kiểm tra tôm bệnh để phát hiện bệnh bằng cách sử dụng kit xét nghiệm dot blot ví dụ như là loại Shrimple để xác nhận bệnh đốm trắng.

55. Loại bỏ tôm bệnh và chết ngay khi nó xuất hiện trong ao và chôn ở xa vị trí ao nuôi. Không vứt tôm chết và bị bệnh ở kênh mương hoặc ngoài trời. Không dùng bất kỳ hóa chất hay thuốc khi không được tư vấn từ chuyên viên sức khỏe tôm. Không có thuốc để chữa trị các bệnh do virút trên tôm.

56. Nếu tỷ lệ chết hàng ngày gia tăng nhanh, bị hoặc không bị đốm trắng trên tôm, kết hợp lượng tiêu thụ thức ăn giảm nhanh thì cần thu hoạch khẩn cấp.

Nếu tỉ lệ chết nhanh tới 50 con/ngày và nhật ký ao không cho thấy nguyên nhân môi trường rõ ràng hoặc xét nghiệm dot blot xác nhận bệnh đốm trắng, thu hoạch toàn bộ bằng lưới và giữ nước trong ao ít nhất một tháng.

Nếu tôm quá nhỏ để thu hoạch, vẫn giữ tôm trong ao ít nhất một tháng. Nếu cần cấp bách để chuẩn bị cho vụ khác thì sử dụng vôi clorua hoặc hypochlorite canxi ở mức 1.000 kg/ha để khử trùng nước ao và sau 15 ngày tháo nước ra kênh.

57. Đuổi các loại động vật và chim chóc khỏi các ao bị ảnh hưởng bệnh. Không chuyển nhân công trang trại hoặc đổi vật dụng trang trại từ các ao nuôi bị bệnh sang ao khác.

58. Điều quan trọng nữa là phải thu hoạch cẩn thận, xử lý và bảo quản tôm để duy trì độ tươi và chất lượng tôm.

59. Phối hợp thu hoạch với trang trại khác trong khu nuôi. Đảm bảo thông báo cho những người nuôi kế bên biết về việc thu hoạch.

Trước khi thu hoạch 3 đến 4 ngày, bón vôi nông nghiệp vào ao đặc biệt là ở các góc và khu vực mương ở mức 200 kg/ha, cách này sẽ giúp làm sạch bề mặt vỏ. Tránh thu hoạch trong giai đoạn lột xác, nghĩa là trăng tròn hoặc bắt đầu con trăng mới.

Hai ngày trước khi thu hoạch kiểm tra xem có tôm nào lột xác không, nếu khoảng hơn 10 % tôm mới lột xác thì trì hoãn việc thu hoạch 1 hoặc 2 ngày. Không thay nước hoặc giảm mức nước 3 – 4 ngày trước khi thu hoạch.

Thu hoạch từ 6 giờ chiều đến 6 giờ sáng. Tránh thu hoạch và đóng gói tôm vào lúc nóng trong ngày. Không cho tôm ăn 6 giờ trước khi thu hoạch để giữ cho đường ruột rỗng và giúp tôm sống lâu hơn.

Hoàn tất thu hoạch trong vòng 6 – 8 giờ. Nếu cần thiết thì sử dụng nhiều máy bơm nước để thu hoạch kịp thời và bắt gần hết tôm bằng túi lưới. Tránh sử dụng lưới để thu hoạch khi nước nông.

Nếu khó tháo nước ao theo bình thường, sử dụng cửa làm bằng thanh tre hoặc lưới cá đặt ở một góc tại chỗ sâu trong ao để cố định túi lưới và để thu hoạch tôm. Tách tôm nhặt bằng tay với tôm thu hoạch bằng túi.

Phải rửa thật sạch tôm bằng nước sạch và nhúng tôm trong thùng đá lạnh khoảng 15 phút để làm chết lạnh.

Cách này làm cho tôm tươi. Luôn luôn không sử dụng nước ao hoặc nước bẩn trong quá trình rửa và làm chết lạnh. Không sử dụng bất kỳ hóa chất nào trong khi rửa tôm hoặc làm chết lạnh. Đảm bảo dùng đá chất lượng tốt để làm chết lạnh và đóng gói.

Sử dụng lượng tôm và đá xay bằng nhau, trộn đúng cách trong bồn vận chuyển cách nhiệt. Trước khi xếp chồng các hộp đã đóng gói lên nhau, đảm bảo đáy của các hộp phải sạch sẽ. Luôn luôn giữ tình trạng sạch sẽ.

60. Giữ nhật ký nuôi trong quản lý ao là rất quan trọng.

Điều này giúp phân tích kết quả vụ nuôi, nguyên nhân có thể gây bệnh, vv…, ngoài ra để kiểm tra các chi tiêu và thu nhập liên quan đến vụ nuôi, nhờ đó nâng cao hiệu quả kinh tế trong quản lý vụ nuôi.

Đó là một điều kiện tiên quyết trong truy xuất tôm trên thị trường.

Nhật ký ao hàng ngày bao gồm thông tin về chi tiết chuẩn bị ao, nguồn giống, chất lượng và thả giống, các biện pháp xử lý đất và nước, thay nước, loại và số lượng thức ăn, các thông số chất lượng nước, thông tin về tình trạng sức khỏe tôm, thông tin thu hoạch, chi phí và thu nhập.

61. Để đạt hiệu quả tốt hơn trong tiếp thị, cách duy nhất tiến tới là tổ chức các nhóm người nuôi quy mô nhỏ trong khu nuôi.

Các nhóm người nuôi như thế có thể dễ dàng thuận lợi trong việc mua các nguyên vật liệu đầu vào có chất lượng với giá rẻ hơn nhờ đó giảm chi phí sản xuất. Nhiều nhóm người nuôi ở xã có thể cùng liên kết để tiếp thị tôm nuôi với giá tốt hơn.

Thị trường quốc tế luôn có nhu cầu mua tôm có chứng nhận. Điều này có thể cung cấp cho người nuôi lợi thế trong thị trường quốc tế cạnh tranh cao, không chỉ bán sản phẩm thành công mà còn bán được với giá cao.

Nhóm người nuôi có trách nhiệm và thành công là nhóm đối tượng hấp dẫn đối với khối ngân hàng và bảo hiểm để gia hạn tín dụng và bảo hiểm vụ nuôi, nhờ đó sẽ giảm bớt gánh nặng tài chính và rủi ro cho người nuôi.

Người tiêu dùng đang ngày càng quan tâm đến chất lượng và các vấn đề an toàn thực phẩm do tác động của nó đối với sức khỏe con người.

Các nước nhập khẩu đã cấm các loại tôm nhiễm hóa chất đặc biệt là thuốc kháng sinh, thuốc trừ sâu và dư lượng hóa chất độc hại khác. Các hóa chất gây ô nhiễm có thể là từ các trại tôm giống, trại ương, trang trại và nhà máy chế biến.

Vì thế các loại hóa chất không được sử dụng trong bất kỳ khâu nào trong quy trình sản xuất và chuỗi cung ứng. Tôm cũng có thể bị nhiễm vi sinh vật hoặc vi khuẩn có hại như Salmonella, E.coli, vi khuẩn Vibrio cholerae.

Nhiễn khuẩn có thể là do điều kiện mất vệ sinh tại các vùng nuôi như nhà vệ sinh mở trên các kênh của nguồn nước, sử dụng phân hữu cơ ướt / không qua xử lý như phân bò, phân gia cầm, vv…

Ngoài ra nó có thể do quy trình thực hành xử lý thu hoạch và sau thu hoạch không tốt, chế biến mất vệ sinh và điều kiện đóng gói.

Nhiễm khuẩn có thể được ngăn chặn bằng cách sử dụng nhà vệ sinh hợp vệ sinh trong các lĩnh vực nông nghiệp, xử lý nước trong ao lắng, các quy trình thực hành cải tiến trong xử lý thu hoạch và sau thu hoạch, thực hiện chương trình HACCP trong các nhà máy chế biến và đóng gói.

Một khía cạnh chất lượng khác là độ tươi của tôm. Quy trình chế biến và bảo quản tôm nhanh ngay sau thu hoạch là chìa khóa để bảo quản độ tươi của tôm.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cac-quy-trinh-thuc-hanh-quan-ly-tot-trong-nuoi-tom-%C3%A2%E2%82%AC%E2%80%9C-phan-ii-36681.html

Sử dụng hiệu quả men vi sinh trong nuôi tôm

Tuy nhiên, việc nhận diện đúng và phương pháp sử dụng khoa học để phát huy tác dụng từng chủng loài vi sinh, mang lại hiệu quả thiết thực là vấn đề cần lưu ý.

Nhận diện

Chế phẩm vi sinh vật hữu ích có hai loại: loại dùng để xử lý môi trường và loại trộn vào thức ăn cho tôm cá. Đối với xử lý môi trường, vi sinh vật hữu ích thường được sử dụng bao gồm một số loài:

Lactobacillus plantarum, L.acidophillus, L.casei, L.rhamnosus, L.bulgaricus, Bacillus subtilis, B.licheniformis, B. megaterium, B.polymyxa, Actinomycetes, Nitrobacteria, Nitrosomonas…

Hầu hết những loài Bacillus không độc hại đối với động vật, khả năng sinh ra kháng sinh và enzyme.

Enzyme do vi khuẩn Bacillus tiết ra phân hủy rất có hiệu quả các chất như carbonhydrate, chất béo và đạm thành những đơn vị nhỏ hơn.

Giống Bacillus có thể sinh trưởng tốt với nguồn carbon và nitơ thấp. Giống Bacillus cũng có khả năng phân hủy chất hữu cơ tích lũy trong nền đáy ao nuôi tôm.

Các nhóm vi khuẩn tham gia chuyển hóa các chất hữu cơ thành CO2 và nước bao gồm Bacillus, Pseudomonas; nhóm vi khuẩn Nitrosomonas và Nitrobacter chuyển các chất độc hại như NH3, NO2-  thành các chất không độc, như NO3-.

Chúng còn được sử dụng trộn vào thức ăn (được tổng hợp có thể khác với dạng bổ sung vào môi trường nước), khi vào cơ thể tôm để hạn chế vi khuẩn có hại trong đường ruột, giúp chuyển hoá thức ăn và khống chế vi khuẩn gây bệnh.

Sử dụng men vi sinh đúng cách cho hiệu quả cao trong nuôi tôm

Nâng cao hiệu quả sử dụng

Mỗi sản phẩm đều có hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất, người sử dụng nên hiểu rõ bản chất, quan tâm một số vấn đề để tăng hiệu quả sử dụng. Tùy theo thành phần chế phẩm vi sinh mà hoạt động sống, sinh sản có ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường (nhiệt độ, độ mặn, ánh sáng, hóa chất, kháng sinh…).

Nồng độ muối thích hợp tùy thuộc giống vi khuẩn, giống Bacillus có thể 0 – 40‰; do đó, vi khuẩn này có khả năng phân bố rộng và chiếm ưu thế. Nhiệt độ trong ao nuôi cũng ảnh hưởng đến hoạt động của vi khuẩn và tốc độ phân hủy hữu cơ

. Nhiệt độ càng cao (trong khoảng thích hợp) thì tốc độ phân hủy càng nhanh, nhiệt độ 25 – 30oC là thích hợp cho sự phát triển của hầu hết các nhóm vi sinh vật, nếu nhiệt độ ở 18oC vào mùa đông thì tỷ lệ sinh trưởng bị giảm 50%.

Nitrosomonas và Nitrobacter là vi khuẩn mẫn cảm ánh sáng. Khoảng pH thích hợp cho Nitrosomonas là 7,8 – 8, Nitrobacter là 7,3 – 7,5. Nitrobacter sẽ tăng trưởng chậm hơn ở các mức pH cao đặc trưng ao nuôi giai đoạn cuối. Nitrosomonas sống ở nơi có hàm lượng NH3 tương đối cao (như trong bùn đáy ao).

Trong nước, có thể tồn tại trong khoảng thời gian ngắn ở các điều kiện bất lợi, nhờ dùng các vật chất dự trữ bên trong tế bào và khi các vật chất này cạn kiệt chúng sẽ chết.

Đa số các nhóm vi sinh vật này đều ảnh hưởng dễ thấy là có sự thay đổi yếu tố pH, ôxy hòa tan (theo xu hướng giảm) trong môi trường nước khi chúng bắt đầu có tác dụng.

Các chất ôxy hóa mạnh như BKC, thuốc tím, Chlorine, Iodine… và kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn làm giảm hiệu quả của chế phẩm vi sinh vật hữu ích.

Do đó, không dùng các loại hóa chất này sau khi đã sử dụng chế phẩm vi sinh vật hữu ích.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/su-dung-hieu-qua-men-vi-sinh-trong-nuoi-tom-36690.html

Giải pháp phòng chống hội chứng tôm chết sớm (EMS)

Tại hội thảo này, các nghiên cứu của các nhà khoa học cũng như doanh nghiệp đã được đưa ra để giúp cơ quan quản lý, đặc biệt là ND Việt Nam có biện pháp hạn chế thiệt hại trong nuôi tôm do EMS trong thời gian tới.

Giải pháp phòng chống hội chứng tôm chết sớm (EMS)

Những kết quả nghiên cứu bước đầu

Theo kết quả thực nghiệm của giáo sư Donald Lightner – Đại học Arizona (Hoa Kỳ) và Trung tâm Thử nghiệm của Tập đoàn CP (Thái Lan), mầm bệnh Vibrio parahaemolyticus gây EMS phát triển rất nhanh nên có khả năng cạnh tranh mạnh với các vi khuẩn khác.

Khi ao nuôi được tẩy trùng bằng Chlorine trước khi thả tôm giống, vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus có thể phục hồi nhanh hơn nhiều so với các vi khuẩn cạnh tranh có lợi.

Do đó, nếu không sử dụng kịp thời vi khuẩn có lợi (men tiêu hóa, mem vi sinh) để khôi phục tính đa dạng của cộng đồng vi khuẩn, Vibrio parahaemolyticus có xu hướng xâm lấn tới bề mặt.

Vi khuẩn này được tìm thấy ở đáy ao và sản xuất ra chất độc cực mạnh.

Kinh nghiệm từ người nuôi tôm cho thấy, khi tôm nuôi có dấu hiệu bị bệnh gan tụy nên hạn chế cho ăn hoặc giảm lượng thức ăn sẽ giảm được tỷ lệ chết của tôm.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, EMS ít khi xảy ra ở độ mặn thấp, với độ mặn dưới 5/1000, EMS không phải là một vấn đề, do đó các trại nuôi may mắn nằm gần nguồn nước ngọt dường như không gặp vấn đề với bệnh EMS. Với độ mặn trên 5/1000, EMS sẽ là vấn đề cần đặc biệt chú ý, nhất là khi nước ao nuôi có độ mặn trên 10/1000, bởi khi đó EMS sẽ có tác động mạnh nhất.

Khuẩn gây bệnh EMS ưa phát triển ở môi trường đáy ao nên tôm nuôi trong lồng đặt cách xa đáy ao có ít nguy cơ bị nhiễm EMS hơn.

Giải pháp hạn chế thiệt hại do EMS

Qua thống kê cho thấy, nuôi tôm cỡ lớn dường như ít bị bệnh EMS hơn so với tôm cỡ nhỏ.

Do đó, một trong những kỹ thuật là ương nuôi tôm giống trong các bể xi măng hoặc composite, từ 10-25 ngày bằng nguồn nước ao nuôi trước khi thả tôm vào nuôi trong ao. Điều này sẽ giảm thiệt hại nếu như tôm giống bị chết, người nuôi tôm không mất công xả ao và cải tạo lại ao.

Kinh nghiệm từ người nuôi tôm cho thấy, khi tôm nuôi có dấu hiệu bị bệnh gan tụy nên hạn chế cho ăn hoặc giảm lượng thức ăn sẽ giảm được tỷ lệ chết của tôm.

Phương pháp phòng bệnh EMS được các nhà khoa học quan tâm đó là nuôi ghép tôm với một số đối tượng thủy sản khác, chẳng hạn như cá rô phi. Tại Malaysia, một số người nuôi tôm đã hạn chế được thiệt hại do EMS bằng cách sử dụng nước từ ao nuôi cá măng biển và cá rô phi bơm sang ao nuôi tôm.

Theo tiến sĩ Donald Lightner, nuôi ghép tôm với các đối tượng thủy sản khác có mức độ an toàn dịch bệnh cao hơn hẳn so với nuôi tôm độc canh.

Các đối tượng thủy sản này sẽ tiêu diệt các loài thiên địch có hại để bảo vệ sự cân bằng tự nhiên vốn có, đồng nghĩa các loại vi khuẩn có hại cho tôm sẽ bị tiêu diệt và tôm không ăn phải những loài vi khuẩn này nên ít bị nhiễm bệnh.

Tuy nhiên, giải pháp nuôi ghép vướng phải vấn đề tôm nuôi bị các đối tượng thủy sản khác ăn nếu nuôi không đúng kỹ thuật và đạt năng suất thấp so với nuôi tôm đơn canh nên đây cũng chỉ là giải pháp tạm thời.

Việc sử dụng công nghệ sinh học biofloc để đa dạng hóa quần thể sinh vật trong các ao nuôi tôm cũng được quan tâm rất nhiều.

Tuy chưa có các nghiên cứu giám sát về phương pháp này nhưng trong khuôn khổ nhóm công tác của Ngân hàng Thế giới/Quỹ Nuôi trồng thủy sản có trách nhiệm cho thấy nhiều mô hình áp dụng công nghệ Biofloc giúp tôm ít bị nhiễm EMS hơn.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/giai-phap-phong-chong-hoi-chung-tom-chet-som-ems-36696.html