Giải pháp giảm rủi ro cho người nuôi tôm ở bạc liêu

Thực tế cho thấy, hơn 10 năm chuyển dịch cơ cấu sản xuất, nghề nuôi tôm của tỉnh Bạc Liêu vẫn còn phụ thuộc rất lớn vào tự nhiên, dịch bệnh trên tôm nuôi ngày càng phức tạp, nhất là vào thời điểm giao mùa và mùa khô, ban ngày thời tiết trở nên nắng gắt, tối trở lạnh, sự chênh lệch cao về nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm có thể lên tới 120C do vậy môi trường nước ao nuôi tôm thường không ổn định, các yếu tố môi trường như pH, độ kiềm, oxy hòa tan luôn dao động, hiện tượng ao nuôi khó gây màu nước, tảo trong ao thay đổi thường xuyên. tag: phần mềm quản lý ao

Bên cạnh là áp lực nước mặn thay đổi theo mùa, vào mùa khô độ mặn thường rất cao, mực nước trong ao thấp do hiện tượng bốc hơi nước, mùa mưa thường độ mặn giảm đột ngột và lúc này là cơ hội thuận lợi cho nhiều loại bệnh phát triền và bùng phát.

Nhiều người nuôi tôm thừa nhận những năm trước 2010 nuôi tôm dễ, cũng có rủi ro nhưng ít và chủ yếu là gặp ở vụ nuôi trái vụ, 2 năm nay hầu như các tháng trong năm đều khó nuôi do môi trường ao nuôi luôn biến động, dịch bệnh phát sinh nhiều, giá các loại nguyên liệu đầu vào luôn tăng, giá sản phẩm không ổn định, có thời điểm xuống thấp làm người nuôi không có lãi.

Theo thống kê ngành nông nghiệp, chỉ tính trong năm 2011, tổng diện tích nuôi tôm bị thiệt hại là trên 23.000 ha, riêng diện tích nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh thiệt hại trên 10.000 ha, 9 tháng đầu năm 2012 diện tích tôm thiệt hại ở các mô hình nuôi là gần 14.000 ha, trong đó nuôi thâm canh, bán thâm canh có gần 6.000 ha thiệt hại, cao hơn 4.500 ha so với cùng kỳ năm 2010.

Có thể thấy nuôi tôm gần đây nổi lên 1 số vấn đề như sau:

– Năng suất tôm nuôi/ ha có xu hướng tăng so với các năm trước, nhưng sản lượng chung thấp hơn nhiều. Theo thống kê ngành nông nghiệp Bạc Liêu, sản lượng tôm nuôi 9 tháng 2011 là 38.463 tấn giảm 14.454 tấn so cùng kỳ 2010, 9 tháng 2012 là 44.718 tấn tăng so cùng kỳ 2011 nhưng giảm 8.199 tấn so cùng kỳ 2010.

– Giá tôm nguyên liệu 9 tháng đầu năm 2012 loại tôm sú 30 con/kg từ 125 ngàn đến 130 ngàn đồng/kg giảm 30% so cùng kỳ 2011, trong khi  giá các loại đầu tư đầu vào như thức ăn, xăng dầu, điện, kết hợp với sản lượng tôm không được cải thiện thì việc thua lỗ là không thể tránh khỏi. tag: phần mềm phối trộn thức ăn

– Xu hướng chung của nuôi tôm hiện tại hiệu quả sản xuất chưa cao.

– Ảnh hưởng của các yếu tố nội tại như kỹ thuật nuôi còn yếu, thiếu đầu tư hợp lý, quá trình nuôi còn trông chờ nhiều vào may rủi.

– Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu làm cho thời tiết chuyển biến theo chiều hướng bất lợi làm môi trường nước ao nuôi luôn biến đổi theo chiều hướng xấu, một số loại bệnh mới xảy ra mà hiện nay chưa tìm ra nguyên nhân, người nuôi tôm gặp rất nhiều khó khăn trong quản lý môi trường ao nuôi, bên cạnh là chất lượng thức ăn, thuốc thú y thủy sản và con giống kém làm cho vụ nuôi không tránh khỏi rủi ro.

Trước diễn biến dịch bệnh trên tôm nuôi, thời gian qua các ngành chuyên môn Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bạc Liêu đã có nhiều giải pháp tích cực tới người nông dân như: xác định lịch thời vụ nuôi cho từng mô hình, khuyến cáo nuôi thưa, cảnh báo thời tiết, dịch bệnh, ô nhiễm, tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật, hội thảo đầu bờ, tuyên truyền khuyến cáo nông dân nuôi tôm phát huy ý thức cộng đồng trong việc quản lý môi trường, áp dụng quy trình nuôi khép kín, sử dụng các chế phẩm sinh học để quản lý môi trường ao nuôi nhằm hạn chế thiệt hại do dịch bệnh lây lan, khuyến cáo người nuôi kiên quyết loại trừ các loại vật tư, con giống kém chất lượng, không nóng vội thả giống khi chưa chuẩn bị đầy đủ các trang thiết bị, các yêu cầu cần thiết cho vụ nuôi.

Tuy nhiên, trước hạn chế về chất lượng nguồn nước, hệ thống thủy lợi còn chưa đồng bộ, chất lượng con giống và các loại vật tư như thức ăn, thuốc hóa chất, nhiên liệu chưa được cải thiện, tính cộng đồng vẫn chưa được giải quyết triệt để…nên tôm nuôi vẫn bị chết hàng loạt ở nhiều vùng.

Ông Huỳnh Quốc Khởi, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Bạc Liêu chia sẻ: do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thời tiết chuyển biến ngày càng có chiều hướng xấu đã phát sinh nhiều yếu tố bất lợi, trong đó dịch bệnh trên tôm nuôi diễn biến khá phức tạp và điều lo lắng nhất hiện nay là vẫn còn nhiều nông dân chưa nắm vững kỹ thuật, còn nóng vội thả giống trong khi chưa thật sự chú ý tới việc cải tạo ao, quản lý môi trường nước ao nuôi và phòng trị bệnh cho tôm. Theo ông Khởi, để giảm thiểu những rủi ro, người nuôi tôm cần làm tốt một số vấn đề sau đây:

– Kiên quyết loại trừ các loại vật tư, con giống kém chất lượng.

– Tùy vào quy mô, điều kiện kinh tế từng hộ mà quyết định thả nuôi mật độ hợp lý.

– Không nóng vội thả giống, cần chuẩn bị đầy đủ các trang thiết bị, móy móc, dụng cụ cần thiết trước khi thả nuôi.

– Chú trọng yếu tố con người (người nuôi tôm phải cẩn thận, gọn gàng, sạch sẽ, hiểu biết kỹ thuật và yêu nghề).

– Thường xuyên thăm ao để sớm phát hiện các hiện tượng khác thường, không để hiện tượng mất màu nước hoặc các yếu tố môi trường trong ao nuôi giao động, bằng cách luôn giữ mực nước ao nuôi tối thiểu 1,2 m, sử dụng các loại vôi Super Canxi, Dolomite, các loại khoáng, các loại vi sinh thật sự chất lượng để ổn định môi trường ao nuôi.

– Cần chăm sóc đúng cách không để thức ăn dư thừa, chỉ sử dụng khoảng 75 – 80% khẩu phần thức ăn đã định trong ngày, định kỳ 10 – 15 ngày nên xét nghiệm mẫu nước để sử dụng vi sinh đúng liều nhằm giảm chi phí và hạn chế được dịch bệnh.

– Không lạm dụng sử dụng các loại thuốc kháng sinh, hóa chất trong suốt quá trình nuôi.

– Khi có biểu hiện khác thường trong ao cần tìm hiểu nguyên nhân hoặc báo cho cán bộ kỹ thuật để được tư vấn, hướng dẫn xử lý kịp thời

– Ghi chép mọi hoạt động, diễn biến của ao nuôi trong quá trình nuôi vì đây là cơ sở cho việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm, đánh giá chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm và nhất là căn cứ để đưa ra phác đồ phòng ngừa và xử lý kịp thời khi có sự cố xảy ra.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/giai-phap-giam-rui-ro-cho-nguoi-nuoi-tom-o-bac-lieu-12150.html

Để giảm CO2 trong ao nuôi tôm

Khi thở, vi sinh vật, tôm, cá và vi khuẩn thải ra CO2, sự thối rữa hiếu – yếm khí các chất cặn bã hữu cơ cũng sản sinh ra CO2 và CO2 tạm tồn tại trong nước dưới dạng HCO3. Ở dạng này CO2 trở thành độc khí. Nồng độ CO2 cho phép trong ao tôm, cá là 5mg/l. tag: phần mềm quản lý ao

Khi nồng độ CO2 trong nước cao (10-15mg/l) mà có một lượng Nitrit (NO2) cao, thì tôm, cá bị bệnh đông máu làm cho tôm, cá khó hô hấp. Trong trường hợp này chúng ta cần phải giảm lượng CO2 bằng cách xử lý Ca(OH)2. Xem xét tác dụng kép sau:

CO2 + Ca(OH)2 –> CaCO3 + H2O

CaCO3 + CO2 + H2O –> Ca(HCO3)2

Trong nghiên cứu thực tế chúng tôi thấy, để loại bỏ 1mg CO2/lít thì cần 0,84 mg Ca(OH)2. Vì sự hiện diện của CaCO3 trong nước làm nồng độ pH rất cao, các trại nuôi tôm thường dùng giấm công nghiệp hoặc rỉ đường để hạ nồng độ pH. Sở dĩ, người ta dùng giấm vì nghĩ, acid sẽ làm giảm độ pH và rỉ đường làm giảm CaCO3. tag: phần mềm phối trộn thức ăn

Cách làm này là không có cơ sở. Cách làm của các nhà khoa học là thay thế Ca(OH)2 bằng Na2CO3, vì chất này hòa tan nhanh, tác dụng nhạy cảm với CO2.

Na2CO3 + CO2 + H2O –> 2NaHCO3

Dựa vào công thức này tính toán để loại bỏ 1mg CO2/lít thì cần 2,41mg Na2CO3.

Ví dụ: Khi đo thấy nồng độ CO2 trong ao là 23mg/l thì nồng độ này vượt quá ngưỡng cho phép đến 18mg/l. Nếu xử lý Ca(OH)2 thì cần dùng: 18mg/l x 0,84 mg Ca(OH)2 = 15,1mg/l. Tính nước ao chính xác là bao nhiêu lít, ta nhân lên. Xử lý với Na2CO3 trong cùng chỉ số quan trắc trên 18mg CO2 x 2,41mg Na2CO3 = 43,38mg/l.

Nếu trong ao, tảo dày đặc thay nước cũng không hết thì phải nghĩ đến phosphor cao. Lúc này nên dùng muối biển thay thế cho Na2CO3. Dùng vôi nguyên chất pha với nước ngọt để lắng cặn, bỏ muối biển vào với nồng độ 25-30% và tạt đều trên mặt ao.

Nếu ao 5000m vuông mặt nước dùng 100kg vôi; 500 kg muối. Tạt nhiều lượt. Lúc này dừng lo về độ mặn, vì lượng muối này không thể nâng độ mặn lên cao, nhất là vào mùa mưa.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/de-giam-co2-trong-ao-nuoi-tom-13365.html

Các dấu hiệu nhận biết bệnh tôm

Việc giám sát sức khỏe tôm hàng ngày và hiểu biết các dấu hiệu bệnh lý của tôm là khá quan trọng nhằm sớm phát hiện và phòng ngừa bệnh đạt hiệu quả cho người nuôi. Bài viết sau giới thiệu kinh nghiệm nhận biết các dấu hiệu tôm bệnh trong quá trình quan sát, giám sát hàng ngày. tag: phần mềm quản lý ao

1. Dấu hiệu chung

– Tôm có dấu hiệu bơi lờ đờ, hoạt động chậm chạp.

– Bơi gần mặt nước hoặc tấp mé ao, đặc biệt vào ban đêm và sáng sớm.

– Ăn kém khi kiểm tra thức ăn trong máng ăn hoặc đường ruột.

2. Dấu hiệu bên ngoài cơ thể

– Tôm chuyển màu hơi xanh da trời (có thể do nhiễm MBV)

– Thân hoặc các phụ bộ có màu đỏ (bệnh đỏ thân do virus GAV và bội nhiễm các virus khác hoặc do vi khuẩn)

– Vỏ tôm bị mềm (bệnh mềm vỏ)

– Vỏ tôm có màu hơi xanh lá cây và bị nhớt (có thể do nhiễm ký sinh trùng Protozoa)

– Thân tôm có màu trắng đục cơ (bệnh bông vải)

– Bên trong đầu hơi vàng và có mùi hôi khi bóc ra (bệnh virus đầu vàng)

– Vỏ có những đốm màu trắng (virus đốm trắng, hoặc virus IHHNV hoặc vi khuẩn)

– Các đốm đen trên vỏ (bệnh vi khuẩn). tag: phần mềm phối trộn thức ăn

3. Dấu hiệu bên trong cơ thể

– Mang có màu đen hoặc nâu (Bệnh đen mang)

– Mang có các sợi nấm (bệnh nấm)

– Mang có màu hơi xanh lá cây (nhiễm ký sinh trùng Protozoa)

– Đường ruột trống rỗng, không có thức ăn (Nhiễm vi khuẩn Vibrio)

– Gan tụy có màu trắng và dơ bẩn (bệnh BNM)

Lưu ý: Các dấu hiệu trên dùng để dự đoán các loại bệnh – Cần phải lấy mẫu tôm đi xét nghiệm để biết chính xác tôm có nhiễm các loại bệnh theo dự đoán hay không – qua đó tích lũy thêm kinh nghiệm giám sát và phát hiện bệnh tôm. Liên hệ để tư vấn các loại thuốc phòng trị bệnh tôm.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cac-dau-hieu-nhan-biet-benh-tom-11741.html

Quy trình sản xuất giống tôm thẻ chân trắng sạch bệnh

Để tạo ra những con giống có chất lượng, phải tuân thủ một quy trình sản xuất hoàn chỉnh. Con Tôm trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc quy trình sản xuất giống TTCT của Công ty TNHH Uni-President Việt Nam. tag: phần mềm quản lý ao

Lưu trình xử lý nước

Nước biển được xử lý theo các bước sau:

Nước biển -> Ao lắng -> Lọc cát (lần 1) -> Hệ thống xử lý Ozone -> Hồ chứa tạm -> Lọc cát (lần 2) -> Lọc than hoạt tính.

Đối với nước nuôi ấu trùng nhỏ, nuôi tảo, sinh sản…, nước còn tiếp tục được lọc tuần hoàn (ít nhất là 24h) bằng hệ thống túi lọc 1 µm và than hoạt tính, bổ sung EDTA, nước sẽ được xử lý UV (tia cực tím) trước khi đưa vào sử dụng.

Nuôi vỗ tôm bố mẹ và cho sinh sản

Nguồn gốc tôm bố mẹ: Sử dụng tôm sạch bệnh SFP (Specific Pathogen Free), được nhập từ các công ty như: SIS, Kona, Global Gen, High Health.Chăm sóc và quản lý: Sử dụng thức ăn viên hoặc thức ăn tươi sống (mực, dời, hàu), bổ sung Vitamin A,D,E,B,C và các khoáng chất khác trộn vào thức ăn. Khẩu phần cho ăn 20-25% trọng lượng thân.Mật độ: Nuôi riêng biệt con đực, cái với mật độ 10-12 con/m2, thay nước 100%/ngày.Các yếu tố môi trường ổn định: pH từ 8-8,5; độ kiềm 96-120 ppm; độ mặn 28-34‰.

Kỹ thuật cho đẻ Cắt mắt: Sau thời gian nuôi vỗ khoảng 30 ngày có thể tiến hành cắt mắt và cho sinh sản.Sinh sản: Chọn tôm cái thành thục và chuyển vào bể tôm đực cho giao vĩ. Sau khi tôm giao vĩ thành công (có 2 túi tinh đính ở thelycum), chuyển tôm mẹ vào bể đẻ. Tạo môi trường yên tĩnh cho bể đẻ.Ấp trứng: Sau khi tôm đẻ, tiến hành thu trứng và cho vào bể ấp. Mật độ ấp 5.000-8.000 trứng/lít. Nhiệt độ nước ấp 30-310C.Thu Nauplius: Dựa vào tính hướng quang, sử dụng ánh đèn để thu Nauplius. Trước khi Nauplius được chuyển vào bể ương nuôi, cần tắm qua dung dịch Iodine…

Quy trình ương nuôi ấu trùng Chuẩn bị bể nuôi: Trước và sau mỗi đợt sản xuất tiến hành vệ sinh tổng thể trại ương (môi trường xung quanh trại, nền trại, bể nuôi, hệ thống khí, dụng cụ…) bằng xà phòng, dung dịch Iodine…Các yếu tố môi trường trước khi thả Naupius – Trước khi thả Nauplius, bổ sung tảo tươi, chế phẩm vi sinh…

Chăm sóc và quản lý Mật độ nuôi: 180-220 Nauplius/l- Thức ăn, cách cho ăn: Tảo tươi Thalassiossira, thức ăn dạng lỏng, Artemia Nauplius, Atemia Biomass.Thức ăn tổng hợp (tùy vào từng giai đoạn ấu trùng mà ta phối trộn thức ăn cho phù hợp). Để tăng cường khả năng bắt mồi và sử dụng thức ăn có hiệu quả nên cho ăn 2 giờ/lần.- Quản lý chất lượng nước: Kiểm tra chất lượng ấu trùng qua kính hiển vi 2 lần/ngày; kiểm tra các yếu tố môi trường nước mỗi ngày; kiểm tra thức ăn dư thừa và sức khỏe ấu trùng trước mỗi lần cho ăn… tag: phần mềm phối trộn thức ăn

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/quy-trinh-san-xuat-giong-tom-the-chan-trang-sach-benh-1-10483.html

Hiện tượng Ph thấp và biện pháp khắc phục

Trong nuôi trồng thủy sản, các thông số môi trường đóng vai trò quan trọng, quyết định sự phát triển của các loài thuỷ sản và sực thành bại của vụ nuôi. Nói cách khác, thông số môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến tỉ lệ sống, sinh trưởng, dinh dưỡng của vật nuôi. Các thông số môi trường được biết đến như độ pH (độ phèn), nhiệt độ, hàm lượng oxy, độ cứng, độ kềm…trong đó thông số độ phèn và sự biến động liên tục của thông số này, trực tiếp gây ra những đợt tress cho vật nuôi thủy sản.  tag: phần mềm quản lý ao

Ảnh hưởng rõ nét nhất là khi độ phèn tăng cao, làm nồng độ NH3 (khí Amoniac) trong nước tăng cao, trực tiếp gây độc cho tôm, cá nuôi. Khi độ phèn thấp, làm hàm lượng H2S (khí sulfuahydro) trong ao nuôi tăng cao, trực tiếp gây độc cho vật nuôi thủy sản. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi đề cập đến hiện tượng pH thấp, những nguyên nhân, ảnh hưởng của hiện tượng này, và một số giải pháp khắc phục.

Độ phèn, hiểu rộng rãi hơn là biểu thị hàm lượng ion H+ (độ acid) trong môi trường nước ao nuôi thủy sản. Mức độ biểu thị dao động từ 0-14, trong đó ở mức độ phèn bằng 7 được gọi là trung tính, đa số các loài thủy sản đều sống và phát triển tốt ở nguồn nước có pH= 7 (trung tính). Nồng độ H+ biến thiên trong ao nuôi hình thành từ một số nguyên do: sự thủy phân Fe3+ và Al3+, từ quá trình oxy hóa hợp chất Fe (sắt), và S (lưu huỳnh), từ quá trình phân hủy hữu cơ trong ao do dư thừa chất dinh dưỡng, từ quá trình hô hấp của vi sinh vật…Nói cách khác, nguyên do pH thấp trong ao nuôi thủy sản vì hàm lượng H+ sinh ra quá nhiều, liên tục, với nồng độ tăng dần theo mức độ ô nhiễm của ao nuôi, theo sự phát triển, gia tăng mật độ nhanh của tảo. tag: phần mềm phối trộn thức ăn

Khi pH thấp, làm giảm khả năng vận chuyển oxy của hemoglobin (tế bào hồng cầu trong cơ thể các loài thủy sản), các bộ phận trên cơ thể như mang, da tiết ra nhiều nhớt, chất nhầy. Khi pH thấp, mang có hiện tượng sưng tấy, khả năng đề kháng trước bệnh tật của vật nuôi thủy sản trong ao giảm rõ rệt, khi đó nồng độ H2S sẽ tăng, độc và nguy hiểm hơn so với khi pH cao.

Như vậy, để giải quyết vấn đề nguồn nước có pH thấp trong ao nuôi thủy sản, có nhiều giải pháp khác nhau. Trước tiên, những ao thuộc vùng phèn không nên phơi ao quá khô dưới ánh nắng mặt trời. Ngoài giải pháp bón vôi và phơi ao, làm tăng độ thông thoáng, khoáng hóa lớp bùn đáy ao, có thể bón thêm phân. Trước khi lấy nước vào ao nuôi, dùng phân chuồng hoai, bón nơi đáy ao. Lượng phân chuồng dùng từ 25-30kg/100m2 đáy ao. Hoặc có thể dùng chế phẩm sinh học để cải thiện, nâng nồng độ pH ao nuôi lên. Cung cấp chế phẩm sinh học nhằm kích thích vi sinh vật có lợi phát triển gia tăng số lượng, chủng loại. Hạn chế tối đa tác hại do các vi sinh vật gây hại, các khí độc được tạo ra từ quá trình phân hủy hữu cơ.

Phân giải thức ăn, chất hữu cơ tích tụ đáy ao nuôi. Mục đích trực tiếp của chế phẩm sinh học nhằm duy trì chất lượng nước, đáy ao, nguồn nước ao nuôi được sạch hơn (chất lượng nước ao nuôi thủy sản phụ thuộc vào số lượng vi khuẩn phân hủy, nhiệt độ, môi trường nước, hàm lượng oxy trong ao). Mục đích gián tiếp của chế phẩm sinh học nhằm hạn chế tác động của bệnh đốm trắng, đầu vàng đối với tôm sú, tôm thẻ chân trắgn, giảm nhu cầu thay nước ao nuôi, ổn định và duy trì sự phát triển của tảo, tăng sự phát triển phiêu sinh động, giảm thiểu sự biến động pH, ổn định chất lượng nước, giúp tôm, cá khỏe mạnh, phát triển nhanh, ít nhiễm bệnh.

Các loại chế phẩm hiện nay trên thị trường rất nhiều, tuy nhiên nên chọn loại chế phẩm sinh học có nguồn gốc là các vi sinh vật sống, được làm từ các chủng như Nitrobacteria, Nitrosomonas, Bacillus…hoặc chọn một số thương hiệu NBT-POND, EM,…

Ngoài ra có thể dùng các hạt trao đổi Ion để nâng pH lên, tuy nhiên trong ao nuôi tôm, do diện tích quá lớn, nếu dùng loại này, chi phí rất lớn, đội giá thành sản xuất lên cao, mô hình nuôi sẽ không thu được kết quả tốt về mặt kinh tế.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/hien-tuong-ph-thap-va-bien-phap-khac-phuc-6317.html

Quy trình nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng thâm canh – bán thâm canh

Dựa trên nền tảng quy trình nuôi tôm thâm canh – bán thâm canh (TC-BTC) mà các ban, ngành chuyên môn Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khuyến cáo.  tag: phần mềm quản lý ao

Trên cơ sở trao đổi, học hỏi kinh nghiệm sản xuất của các hộ nuôi thành công trong tình hình bệnh dịch của nhiều năm trước và trong năm 2011;

Để giúp người nuôi hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro do dịch bệnh Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Bạc Liêu khuyến cáo quy trình nuôi tôm TC-BTC đang áp dụng thành công cho đối tượng tôm sú, tôm thẻ chân trắng như sau:

1.Cải tạo ao: 

1.1 Xử lý đáy ao: Sau mỗi vụ nuôi, cải tạo lại ao đầm nhằm loại bỏ các chất thải tồn lưu ra khu vực ao chứa chất thải, gia cố mái bờ xử lý triệt để rò rỉ. Đối với những ao nuôi trước đây có sử dụng các loại hoá chất, thuốc trừ sâu, hoặc nuôi nhiều vụ liên tục, nên cày xới đáy ao, phơi khô, sau đó lọc nước ngâm đáy ao khoảng 3 – 5 ngày hút nước ra ngoài và phơi đáy cho đến khô nứt nẻ. Kiểm tra pH đáy ao, nếu pH> 6 bón vôi CaO hay CaCO3  từ 70 – 100 kg/ 1000 m2, nếu pH

Chú ý: Không nên san ủi đáy ao quá sâu (> 1,8 m) dễ dẫn đến ao nuôi có độ pH thấp do gặp tầng sinh phèn, tôm nuôi chậm lớn do khó lột xác.

1.2 Lọc nước: Cấp nước vào ao lắng rồi chuyển qua đầy ao nuôi bằng máy bơm hoặc cống. Cần có túi lọc bằng vải kate để hạn chế tối đa tôm, cá tạp xâm nhập vào ao.

– Tránh lấy nước trong các trường hợp sau:

+ Nguồn nước nằm trong vùng có dịch bệnh.

+ Nước có hiện tượng phát sáng vào ban đêm.

+ Nước có nhiều váng bọt, màng nhầy, nhiều phù sa đen lơ lững.

+ Không lấy nước khi thủy triều đang lên. (Nên lấy nước bắt đầu bình để hạn chế các chất phù sa lơ lững vào ao).

– Nên lấy nước vào ao nuôi qua hệ thống ao lắng, ao chứa vì:

+ Nước ở đây đã được lắng lọc phù sa và các loại rong tảo tạp, cá tạp.

+ Nguồn nước lưu giữ trong ao lắng, ao chứa được lấy vào trước đó 10 – 15 ngày, các mầm bệnh tiềm ẩn trong môi trường sẽ giảm do không tìm được ký chủ trung gian.

1.3 Xử lý nước: Sau khi lấy đủ mực nước trong ao, để ổn định 2 – 3 ngày. Những hộ diện tích ít không có hệ thống ao lắng, ao chứa cần để ổn định nước trong ao 10 – 20 ngày) tiến hành diệt giáp xác bằng sản phẩm chuyên dùng trong nuôi thủy sản (không chứa các chất cấm sử dụng theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Sau 1 – 3 ngày chạy quạt đều, trung bình ngày 4 – 6 giờ để kích thích cho trứng, ấu trùng cá tạp có trong nước nở hết và tiến hành diệt tạp, sử dụng Saponin 15 – 20 kg/1.000 m3 nước. Sau 3 – 5 ngày tiến hành diệt khuẩn, sản phẩm được sử dụng nhiều là Iodine, Virkon,  Finishnano…(sử dụng lúc 8 giờ hoặc 16 giờ).

1.4 Gây màu nước: Thực hiện gây màu nước sau khi đã diệt khuẩn từ 3 – 7 ngày. Đây là khâu quan trọng nhằm tạo nguồn thức ăn tự nhiên trong ao nuôi. Gây màu tốt giúp ổn định môi trường nước, hạn chế được tôm bị sốc giúp tăng tỉ lệ sống: sử dụng vôi Dolomite hoặc CaCO3: 15 – 20 kg/1.000 m3 kết hợp sử dụng phân gây màu chuyên dùng như TA-ALGAUP: 20 kg/1.000 m3, hoặc sử dụng phân vô cơ NPK, DAP (2 – 3 kg/1.000 m3) hoặc sử dụng theo phương pháp truyền thống: sử dụng cám gạo, bột đậu nành nấu chín, ủ chua (2 – 3 kg/1.000 m3) sử dụng liên tục 3 – 5 ngày. Kiểm tra độ trong khi đạt 30 – 40 cm thì tiến hành cấy vi sinh.

Mục đích cấy vi sinh là để phân hủy các cặn hữu cơ lơ lững, các xác tảo chết tích tụ do dùng hóa chất diệt khuẩn trước đó, đồng thời tạo nguồn vi khuẩn có lợi giúp môi trường ao nuôi ổn định, tạo điều kiện cho tôm nuôi phát triển tốt ngay từ đầu. Tiến hành kiểm tra lại các yếu tố môi trường nếu nằm trong ngưỡng thích hợp: pH: 7,5 – 8,5 dao động trong ngày không quá 0,5: độ kiềm ≥ 70, độ mặn < 30 ‰, các chỉ tiêu H2S, NH3…= 0 thì tiến hành thả giống. tag: phần mềm phối trộn thức ăn

2. Phương pháp chọn và thả giống:

2.1 Chọn giống

Tôm giống tốt sẽ cho tỷ lệ sống cao, tăng trưởng nhanh, kháng bệnh tốt. Cần áp dụng các bước sau:

a. Chọn bằng cảm quan qua các đặc điểm như:

Kích cỡ, màu sáng, sắc tố thể hiện rõ, đôi râu khép lại, các đốt bụng thon, dài, cơ bụng căng đầy, thịt đầy vỏ, đầu và thân cân đối. Tôm bơi ngược dòng nước, bám vào thành bể tốt. Phản xạ tốt khi gõ vào dụng cụ chứa. Phụ bộ tôm hoàn chỉnh, không có ký sinh trùng bám. Đường ruột đầy thức ăn. Không bệnh phát sáng.

b. Sốc formol: trước khi xét nghiệm nên sốc formol 70 – 100 ppm, thời gian 30 phút, hoặc sốc độ mặn bằng cách giảm đột ngột độ mặn xuống 50%, nếu tỉ lệ chết < 10% là đạt yêu cầu.

c. Chọn qua xét nghiệm để phát hiện, loại bỏ mẫu tôm yếu, nhiễm virus đốm trắng, đầu vàng,  MBV…

2.2 Thả giống

Kích thước tôm giống thả: đối với tôm sú tốt nhất là thả giống khi đạt kích cỡ Post 12 -15. Đối với tôm thẻ chân trắng tốt nhất là Post 10 – 12.

Mật độ thả: Tùy vào điều kiện kinh tế, mức đầu tư và kỹ thuật của từng hộ, đối với tôm sú nên thả từ 10 – 20 con/m2; tôm thẻ chân trắng từ 50 – 100 con/m2.

Thả giống đúng kỹ thuật cũng góp phần tăng tỷ lệ sống của đàn tôm. Trước khi thả giống nên ngâm các bọc chứa tôm giống trong nước ao khoảng 15 phút để cân bằng nhiệt độ giữa nước trong  bọc chứa tôm giống và nước ao nuôi. Thả tôm vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát là tốt nhất.

3. Chăm sóc và quản lý:

 3.1 Chăm sóc: Hiệu quả kinh tế phụ thuộc rât nhiều vào thức ăn, cách cho ăn, sử dụng thuốc thú y thủy sản phòng ngừa bệnh, các chất khoáng vi lượng… Cần cho tôm ăn bằng thức ăn công nghiệp (CN) ngay sau khi thả giống, thức ăn phải đảm bảo chất lượng, số lượng, cỡ mồi phù hợp với từng giai đoạn phát triển.

– Tháng nuôi thứ 1: Ngày đầu tiên cho ăn 1,2 – 1,5 kg/100.000 con giống, cứ 2 ngày tăng 200 gam/100.000 con giống, 15 ngày sau khi thả giống đến khi thu hoạch sử dụng các sản phẩm thuốc thú y thủy sản có chức năng phòng ngừa các bệnh đường tiêu hóa, bệnh gan và cung cấp các Vitamin, các khoáng cần thiết giúp tôm tăng cường sức đề kháng (mỗi loại 5 – 10 gam/kg thức ăn). Các sản phẩm này sau khi phối trộn được bao bọc bằng 1 trong các loại chất kết dính: dầu mực, dầu cá hoặc các sản phẩm thương mại có tính năng kết dính khác, lượng dùng 15 – 20 gam/kg thức ăn.

– Tháng nuôi thứ 2 đến thu hoạch: điều chỉnh thức ăn trong ngày thông qua sàn ăn, chú ý những ngày mưa hoặc nắng gắt chỉ sử dụng 70 – 80% lượng thức ăn đã định, tránh hiện tượng thức ăn dư thừa làm ô nhiễm môi trường ao nuôi, tôm dễ phát sinh bệnh. Quản lý chặt chẽ lượng thức ăn, đảm bảo chu kỳ nuôi hệ số thức ăn dao động 1,3 – 1,6.

3.2 Quản lý: Khi nuôi tôm ở mật độ dày, nhất là trong nuôi tôm thẻ chân trắng thì tất cả hệ thống sinh thái của môi trường nước đều thay đổi hoàn toàn so với những điều kiện tôm sống ngoài tự nhiên. Rất nhiều diễn biến phức tạp và sự cố xảy ra hàng giờ, hàng ngày. Dùng vi sinh đúng liều lượng sẽ giúp cân bằng hệ sinh thái, kích thích vi sinh vật có lợi lấn át vi sinh vật có hại gây bệnh cho tôm, tiết kiệm chi phí và ao nuôi luôn ổn định, an toàn trong suốt quá trình nuôi.

– Trong tháng nuôi 1: Chú ý gây và giữ màu nước ao nuôi, tránh trường hợp nước ao trong kéo dài sinh tảo đáy (laplap) hoặc tảo phát triển quá mức gây hiện tượng thiếu oxy về sáng, có thể gây ra hiện tượng tôm đóng rong. Định kỳ 10 – 15 ngày sử dụng vi sinh 1 lần.

– Tháng nuôi thứ 2 đến khi thu hoạch: Tôm lớn nhu cầu oxy cao nên nhất thiết không để tảo phát triển nhiều trong ao. Trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu 90% các ao nuôi tôm  TC-BTC đều có độ kiềm thấp < 80 ppm, đây là yếu tố quan trọng tác động đến chu kỳ lột xác và sự phát triển của tôm nuôi. Vì vậy, định kỳ hoặc khi thấy tảo trong ao phát triển mạnh hoặc màu nước thay đổi, độ kiềm thấp…dùng vôi CaCO3 10 – 20 kg/1.000 m3 hoặc sử dụng khoáng tạt No79: 1 kg/1.000 m3, sử dụng lúc 20 – 21 giờ tối, trưa hôm sau cấy vi sinh (sản phẩm chất lượng, có uy tín, thương hiệu) nhằm phân hủy các chất thải, xác tảo, mùn hữu cơ đáy ao, tạo nên môi trường trong sạch, pH, độ kiềm ổn định giúp tôm phát triển tốt.

– Hệ thống quạt nước, hỗ trợ oxy trong ao nuôi TC-BTC là không thể thiếu, nhất là đối với nuôi tôm thẻ chân trắng. Tùy diện tích ao, mật độ nuôi mà bố trí hệ thống này cho hợp lý. Trong quá trình nuôi đặc biệt chú ý vào thời điểm 19 – 21 giờ oxy trong nước ao giảm dần và 01 – 05 giờ sáng, là thời điểm oxy thấp nhất, nhất là vào những ngày thời tiết thay đổi nắng – mưa,…nên rất cần phải vận hành hệ thống này với tốc độ trung bình 80 – 90 vòng/phút.

– Trang thiết bị dụng cụ cần sử dụng riêng biệt, vệ sinh cá nhân, dụng cụ trước và sau khi sử dụng.

3.3 Những sự cố thường gặp

Khi trong ao nuôi tôm có biểu hiện: Mòn đuôi, đen mang, đứt các phụ bộ, sắc tố xấu, phát sáng hoặc màu nước có biểu hiện khác thường…là các bệnh do vi khuẩn, môi trường gây ra, Cần sử dụng vôi CaCO3 lượng dùng 20 – 30 kg/1.000 m3, hoặc khoáng tạt 1 kg/1.000 m3 sử dụng buổi tối trưa hôm sau cấy vi sinh (loại chất lượng và có uy tín trên thị trường) liều dùng gấp 2 – 3 lần so với dùng định kỳ, sử dụng liên tục trong 2 – 3 ngày. Trong ao xuất hiện tảo lam, tảo đỏ, laplap đáy dùng các loại sản phẩm có chức năng diệt tảo (khi sử dụng cần chuẩn bị sẵn oxy bột đề phòng khi có hiện tượng tôm nổi đầu), sau 2 – 3 ngày cấy vi sinh.

Trong trường hợp tôm nuôi bị nhiễm các bệnh do virus, đối với tôm lớn cần thu hoạch ngay, tôm nhỏ cần xử lý (diệt bỏ) tại ao, có biện pháp cách ly đối với các ao còn lại như là dùng lưới rào ngăn cua còng từ ao nhiễm bệnh bò sang, sát trùng bờ ao bằng vôi CaO hoặc CaCO3 20- 30 kg/100 m2 bờ…sau khi diệt bỏ tối thiểu 7 ngày mới xả ra ngoài môi trường.

Chú ý: Tất cả các loại vi sinh đều sử dụng vào thời điểm có nắng hoặc nếu thời tiết lạnh, mưa, cần sục khí để nhân sinh khối tăng tính hiệu quả.. Không sử dụng bất kỳ loại hóa chất nào để cắt tảo hay kích thích tôm lột hoặc sử dụng kháng sinh trong quá  trình nuôi khi tôm đang phát triển bình thường để tránh có những sự cố đáng tiếc xảy ra như  là  tôm nổi đầu do sử dụng hóa chất làm ao mất tảo hay tôm “óp” do kích lột nhiều lần khi chưa tới chu kỳ lột, tôm chậm lớn do lạm dụng kháng sinh…

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/quy-trinh-nuoi-tom-su-tom-the-chan-trang-tham-canh-ban-tham-canh-4112.html

Kỹ thuật nuôi tôm chân trắng nguyên chủng

Theo đà phát triển của nghề nuôi tôm chân trắng, diện tích, sản lượng, hiệu quả nuôi tăng khá nhanh, nhưng đã có hiện tượng chất lượng tôm giống thoái hoá nghiêm trọng, tốc độ lớn của tôm giảm nhiều, đặc biệt là tôm lớn không đều trong đầm tôm nuôi. tag: phần mềm quản lý ao

Ðể giải quyết tình trạng này, đưa nghề nuôi tôm chân trắng phát triển theo hướng lành mạnh, nhanh chóng và bền vững. Năm 2001 Trung Quốc đã nhập nội giống tôm he chân trắng nguyên chủng về nuôi và cho kết quả tương đối khá.

I. Kỹ thuật nuôi vỗ tôm chân trắng bố mẹ

1. Tháng 2-4/2001: nhập 4 đợt tổng số 500 đôi tôm nguyên chủng sạch bệnh đã được khử trùng từ Hawai (Mỹ) về nuôi ở 2 bể xây hình chữ nhật. Diện tích mỗi bể 50m2, mức nước 70cm, nhốt tôm đực, tôm cái riêng.

Nguồn nước lấy từ nước giếng cát mặn lắng lọc sạch, độ mặn 28-32 pH 7,8 – 8,8 và đưa vào bể muối. Ðược ít ngày tôm hồi phục sức khoẻ và ăn mồi bình thường thì có thể dùng kẹp nóng cắt cuống mắt đơn của tôm mẹ.

2. Thức ăn và cách cho ăn

Chủ yếu là rươi sống, thịt hầu tươi, thịt bạch tuộc tươi. Chỉ khi thiếu thức ăn tươi sống mới dùng thêm thức ăn công nghiệp. Ngày cho ăn 4 lần trở lên theo nguyên tắc lượng ít nhiều lần để tôm ăn no đủ sức phát triển buồng trứng chóng thành thục. Lượng cho ăn mỗi ngày từ 15 – 18% thể trọng tôm trong bể.

3. Hút nước và thay nước

Ðể đảm bảo môi trường luôn trong sạch, đủ ôxy, tôm ăn nhiều, phát triển tốt và không sinh bệnh. Ðây là việc làm hàng ngày, lượng nước thay 80% hoặc hơn.

4. Khống chế nhiệt độ ổn định

Ðầu vụ nuôi nhiệt độ ngoài trời còn thấp nên cần nâng nhiệt nước tới mức ổn định 29oC. Chú ý nhiệt độ nước ở bể chứa nước (để thay nước cho bể nuôi) cũng phải khống chế ngang với ở bể nuôi rồi mới đưa vào bể.

5. Chọn tôm cái thành thục

Tôm cái sau khi cắt cuống mắt, nuôi vỗ tích cực khoảng 10 ngày trở lên thì lần lượt thành thục.

Hằng ngày vào khoảng 10 giờ sáng, sau khi hút cặn thay nước xong, chọn những con cái đã thành thục thả vào bể tôm đực để cho chúng tự giao phối, khoảng 4 giờ chiều thắp đèn chiếu sáng bể tôm để kích thích nâng cao tỉ lệ tôm giao vĩ.

6. Bắt tôm cái sau khi giao phối

Mỗi buổi tối từ 8 đến 11 giờ bắt tôm cái đã giao phối đưa vào bể tôm đẻ. Mật độ : 4 – 5 con/m2 bể.

Chú ý : – Khi tôm đang đẻ sục khí nhỏ để tăng tỉ lệ nở, tránh sục mạnh làm vỡ trứng.

– Kịp thời chuyển tôm cái sang bể khác, khi thấy chúng đã đẻ xong.

– Từ 30 phút đến 1 giờ khuấy đảo trứng nhẹ 1 lần để trứng khỏi bị đọng ở đáy bể thiếu ôxy sẽ chết nhiều.

7. Kết quả

Từ 10/3 có một số tôm cái thành thục đẻ trứng, đến 5/8 tất cả 425 con tôm cái đẻ trứng, tỉ lệ đẻ đạt 85%, tỷ lệ giao vĩ đạt 75%, tỷ lệ nở 82,03%. Tổng số ấu trùng Nauplius thu được là 586,71 triệu con.

Trong khi lưu giữ giống nguyên chủng cần chú ý tạo điều kiện cho tôm thích nghi dần với môi trường ở địa phương, nếu không tôm dễ bị bệnh. tag: phần mềm phối trộn thức ăn

II. Ương ấu trùng tôm

Bể ương tôm giống : 100m2, cao 1,4m.

Nguồn nước cũng lấy từ giếng cát mặn đã lắng lọc sạch, độ mặn 28 – 32; pH 8,0 – 8,3.

Ðưa ấu trùng Nauplius vào ương với mật độ 2 triệu con/bể, khống chế nhiệt độ nước ở bể ương 30oC.

Ngày cho ăn 6 lần. mấy ngày đầu cho ăn mảnh tôm (bột tôm), BP (thức ăn hạt nhỏ) và bột tảo. Sang giai đoạn Zoea cho ăn 1 lượng nhất định thức ăn sinh vật (cốt điền tảo). Từ Mysis tới cuối giai đoạn tôm bột cho ăn chủ yếu là bột tôm kết hợp với một ít artemia. Từ P3 trở đi cách 2 ngày thay 1 ít nước biển sạch mới vào bể ương 1 lần, lượng nước thay tăng dần do ấu trùng ngày càng lớn

Trong giai đoạn M1 và M2, đưa thuốc kháng sinh vào bể đề phòng bệnh là rất cần thiết (dùng Furazolidon và oxytetracycline).

Kết quả ương từ ngày 5/6 đến 8/7. Có 2 ao ương, mỗi ao thả 2 triệu Nauplius. Ao thứ nhất thu được 95 vạn tôm bột Postlarvae (P) tỷ lệ sống 47,5%. Ao thứ hai thu được 76 vạn tôm bột, tỷ lệ sống 38%.

Tỷ lệ tôm bột sống thấp ngoài nguyên nhân và chất nước còn do chưa cung cấp đủ thức ăn phù hợp trong giai đoạn M1 và M2 là giác mao tảo và kim tảo, nên phải cho ăn loại tảo kém chất lượng hơn là cốt điều tảo.

III. Nuôi tôm thịt

Diện tích ao: Ao số 1 : 2.000m2 – Ao số 2 : 9.000m2

Các ao đều lắp máy quạt nước. Nguồn nước là nước biển tự nhiên, độ mặn 12 – 20, pH = 7,8 – 8,2. Ao được tẩy dọn sạch, phơi nắng, khử trùng trước khi thả giống, cho nước vào sâu 1,2m và bón phân gây mầu để tạo sẵn thức ăn tự nhiên ban đầu.

Khi độ trong nước ao 40 – 50cm thì thả tôm bột vào ao.

Ao số 1 thả 30 vạn con.

Ao số 2 thả 33 vạn con.

Trong 5 ngày đầu, mỗi ngày cho ăn 1 lần, từ ngày thứ 6 đến thứ 10, mỗi ngày cho ăn 2 lần, sau đó ngày cho ăn 4 lần. Từ tháng thứ 2 trở đi mỗi ngày cho thêm 5 – 10cm nước ngọt. Suốt quá trình nuôi không cần cho thêm nước mặn. Cuối giai đoạn nuôi tôm thịt rắc vôi bột 2 – 3 lần/tháng, để cải thiện chất nước và chất đáy. Ngoài ra nên định kỳ bón vi khuẩn quang hợp.

Kết quả:

Ao số 1: Ngày 4/7 thả 30 vạn tôm bột, ngày 4/10 thu hoạch (sau 92 ngày nuôi), sản lượng tôm thịt 3.413 kg, qui ra năng suất 17 tấn/ha, con lớn nhất dài 15,6cm, nặng 18,2g, cỡ trung bình dài 12,2cm nặng 14,8g. Tỉ lệ sống 76,87% lượng thức ăn sử dụng 3.800 kg, hệ số thức ăn 1,11.

Ao số 2: Ngày 20/4 thả 10 vạn tôm bột, ngày 23/4 thả tiếp 23 vạn con. Ngày 15/7 thu hoạch. Qua 85 – 93 ngày nuôi tôm thịt đạt 3.675 kg, năng suất bình quân 282,69 kg/660m2. Con lớn nhất dài 11,8cm nặng 21g; bình quân dài 10,3cm, nặng 14,2g, tỷ lệ sống 78,43%, lượng thức ăn sử dụng 3.400 kg, hệ số thức ăn 0,93.

Nhìn chung sử dụng tôm giống sản xuất từ tôm bố mẹ nguyên chủng mới nhập để nuôi tôm thịt tốt hơn hẳn tôm giống từ các nguồn khác ở địa phương. ưu thế là : tôm thịt đều cỡ hơn, thân hình bóng đẹp, thịt chắc hơn, tốc độ lớn nhanh hơn. Tuy vậy, tôm bột chưa quen thích nghi điều kiện môi trường ở địa phương nên sau khi đưa vào ao nuôi tôm thịt mới 1 tuần đã thấy một số con bị bệnh. Vì vậy trong khi lưu giữ giống nguyên chủng sau này cần chú ý tới khâu tạo điều kiện cho tôm thích nghi dần với môi trường ở địa phương.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/ky-thuat-nuoi-tom-chan-trang-nguyen-chung-2596.html

Ương nuôi tôm để quản lý EMS

Mật độ thả cao và không thay nước được áp dụng trong các hệ thống này đòi hỏi công nghệ cao hơn, cơ sở hạ tầng tốt hơn, tăng cường an toàn sinh học, kiểm soát và thiết bị dụng cụ hỗ trợ. tag: phần mềm quản lý ao

Cần thiết phải có các hệ thống lọc, hệ thống thông khí hiệu suất cao, chất lượng nước tốt, sử dụng các loài vi sinh vật, siphon hút bùn, kiểm soát nhiệt độ, kết cấu nhà kính và thức ăn tốt hơn – tất cả với mục tiêu tạo ra một môi trường ổn định cho con giống khỏe mạnh.

Người quản lý các trại ương phải có kinh nghiệm sản xuất giống để có thể duy trì mức độ kiểm soát cần thiết.

Việc sử dụng các chế phẩm vi sinh (probiotic), vi sinh vật có lợi cho sức khỏe là một thành phần quan trọng trong các hệ thống này. Cách thức dùng các loại chế phẩm vi sinh khác nhau phải được điều chỉnh theo sinh khối, chất lượng nước và sức khỏe của tôm giống.

Thức ăn sử dụng trong các hệ thống này phải đạt chất lượng thức ăn cho tôm giống. Việc cố sử dụng thức ăn cho nuôi tăng trưởng ảnh hưởng đến chất lượng nước và về sau phát sinh các vấn đề vi khuẩn học có thể dẫn đến năng suất sản lượng kém và con giống yếu.

Các nhà quản lý các hệ thống này phải có thiết bị và chuyên môn để chuyển tôm giống từ các trại ương sang các ao nuôi tăng trưởng một cách thích hợp. tag: phần mềm phối trộn thức ăn

Tôm giống phải khỏe mạnh trước khi chuyển sang ao nuôi, nếu không có thể mất hết kết quả thu được ở trại ương

. Mới đầu việc sang chuyển ao được thực hiện ở một khoảng cách ngắn.

Ngày nay việc sử dụng máy bơm được thiết kế đặc biệt giúp giảm căng thẳng và tỉ lệ chết, việc sang chuyển có thể thực hiện được ở khoảng cách lên đến hai cây số.

Xu hướng hiện nay là áp dụng mật độ thấp hơn trong các trại ương để sản xuất cỡ giống thả lớn hơn.

Ở Mexico, tác động của hội chứng tôm chết sớm / hoại tử gan tụy cấp tính (EMS/AHPN) rất nghiêm trọng. Sản xuất giảm khoảng 50% trong năm 2013.

Theo một nhà cung cấp hàng đầu về thiết bị chuyên dùng và thức ăn cho nuôi trồng thủy sản – Proaqua Mexico đưa tin, không có báo cáo nào về dịch bệnh EMS ở các trại ương, tuy nhiên, tỷ lệ chết đã xảy ra sau khi chuyển tôm sang thả ở các ao nuôi tăng trưởng.

Một số trang trại đã thả tôm ương ở mức trung bình 1,5 con/lít trong 55 ngày và đạt cỡ 4.5 gram với tỉ lệ sống là 80%.

Khi nuôi trong ao nuôi tăng trưởng với mật độ trung bình 6,5 con/m2 trong vòng 30 ngày thì tôm đạt cỡ 16 – 18 gram. Tôm thu hoạch có hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) trung bình là 0,6 và tỉ lệ sống trung bình là 85%.

Các trang trại đã thực hiện phương pháp này để có được bốn vụ một năm, năng suất hơn 3.000 kg/ha trong suốt năm 2013 với số ngày nuôi ít hơn và hệ số FCR thấp hơn.

Nhiều nỗ lực để chuyển giao khái niệm ương nuôi này sang các quốc gia ở Đông Nam Á đã đem lại các kết quả khác nhau. Người nuôi đã cố gắng xây dựng ao ương ngay tại các trang trại nuôi, nhưng không đảm bảo an toàn sinh học, thiếu các thiết bị công cụ và công nghệ nên đã gặp phải các vấn đề về kích cỡ khác nhau, tỉ lệ sống và việc sang chuyển.

Nhiều ý tưởng để lựa chọn đã được đưa ra ở Đông Nam Á.

Thả giống trong các lồng cách khỏi đáy ao trong vòng 30 ngày đã tránh bùng phát EMS. Ngoài ra, tách riêng bằng lưới để nuôi ương tôm nhỏ trong phạm vi 20 – 30 % diện tích ao và sau 20 đến 30 ngày thì thả tôm ra đã được báo cáo là có ích lợi.

Một kinh nghiệm thành công với việc thực hiện các trại ương đã được báo cáo ở Malaysia với năng suất sản lượng tốt, chuyển thành công tôm giống sang ao nuôi tăng trưởng và thu hoạch thành công trong vụ nuôi ngắn hơn.

Vẫn còn khả năng để cải thiện năng suất bằng cách điều chỉnh chế độ cho ăn, cách thức / quy trình xử lý vi sinh và các điều kiện nhiệt độ để đạt được trọng lượng tốt hơn trong các trại ương.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/uong-nuoi-tom-de-quan-ly-ems-36711.html

Phòng tránh bệnh cong thân và đục cơ trên tôm thẻ chân trắng

Theo các nhà chuyên môn, nguyên nhân chính gây ra tình trạng này là do tôm nuôi bị sốc nhiệt và ao nuôi thiếu khoáng. tag: phần mềm quản lý ao

Trong đó hiện tượng tôm bị sốc nhiệt khiến người nuôi rất khó phòng tránh khi thời tiết mưa nắng xen kẽ như hiện nay.

Ông Mai Văn Chánh – một hộ nuôi tôm lâu năm ở xã Ngọc Đông, huyện Mỹ Xuyên, cho biết: “Nông dân có nuôi tôm thì ai cũng biết về bệnh co cơ, cong thân trên tôm.

Đối với vùng đất ở Mỹ Xuyên thì bệnh này rất phổ biến và phát triển mạnh nhất vào những tháng nắng nóng hay ở những ao nuôi nghèo dinh dưỡng, nước có độ trong nhiều.

Bệnh này tấn công vào giai đoạn tôm ở từ 20 đến 30 ngày tuổi.

Những ao nuôi bị bệnh này thì tôm sẽ bị phân đàn, tôm chậm lớn.

Để hạn chế bệnh co cơ, cong thân thì phải thả nuôi thưa, tăng liều sử dụng lượng khoáng trong ao nuôi, nếu ao lắng có nuôi cá thì cung cấp nước cá vào ao tôm sẽ hạn chế được bệnh này trên tôm nuôi.”

Về phòng bệnh cong thân đục cơ do tôm bị thiếu khoáng các nhà khoa học khuyến cáo có thể định kỳ bổ sung khoáng tạt cho ao nuôi tùy theo tuổi tôm và mật độ nuôi dày hay thưa, liều lượng từ 1-2kg/1000 m3 vào ban đêm và định kỳ từ 3-7 ngày/lần, hoặc có thể dùng kết hợp với khoáng nước loại trộn cho ăn với liều lượng từ 1-2ml/kg thức ăn, 2 cử/ngày. tag: phần mềm phối trộn thức ăn 

Nếu trị tôm bị đục cơ thì có thể tăng liều lên so với liều đánh định kỳ và liên tục trong 3 ngày cho đến khi tôm hết bị đục cơ.

Ngoài ra nếu có điều kiện thì bà con cần thường xuyên kiểm tra thêm hàm lượng Ca, Mg và Kali trong nước sao cho nằm trong khoảng thích hợp.

Ngoài ra, thường ít xảy ra hơn đó là tôm bị đục cơ do nhiễm virut và vi bào tử trùng, trong trường hợp này thì phòng ngừa là chủ yếu.

Kỹ sư Võ Quốc Hào – Chi cục NTTS tỉnh Sóc Trăng khuyến cáo như sau: “ Trường hợp tôm bị đục cơ là do vi rút, tôm có dấu hiệu bị đục cơ ở phần đuôi sau đó lan ra toàn thân, tỉ lệ chết có thể lên đến 40-60%.

Ngoài ra 1 số nghiên cứu đã kết luận bệnh đục cơ có thể là do vi bào tử trùng gây nên.

Đối với bệnh cong thân đục cơ do virut thì có thể phòng ngừa bằng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp như cải tạo ao thật tốt, tôm giống phải qua xét nghiệm các mầm bệnh nguy hiểm, tránh dư thừa thức ăn, trong quá trình nuôi quản lý các yếu tố môi trường luôn nằm trong ngưỡng thích hợp và ổn định.”

Môi trường ao nuôi thông thoáng hạn chế được dịch bệnh cho tôm.

Tính đến tuần cuối tháng 9/2015, Sóc Trăng thả nuôi được 45.870 ha tôm nước lợ, trong đó diện tích thả tôm thẻ nhiều hơn tôm sú (hơn 23.628 ha).

Dự báo thời gian tới, thời tiết vẫn sẽ mưa nắng xen kẽ, đồng thời giá tôm nguyên liệu vẫn chưa có dấu hiệu tăng, vì vậy bà con nuôi tôm cần chú ý trong các khâu canh tác, giữ vững mực nước ao nuôi từ 1,2 – 1,5m, tăng cường bổ sung Khoáng, Vitamin vào ao tôm, để đảm bảo năng suất và lợi nhuận cho vụ nuôi này.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/phong-tranh-benh-cong-than-va-duc-co-tren-tom-the-chan-trang-32807.html

Thực hành cho tôm ăn

Lượng thức ăn phải dựa trên bảng cho ăn tính theo sinh khối tôm. tag: phần mềm quản lý ao

Thường xuyên chài tôm để ước tính sinh khối tôm nhằm xác định tốc độ tăng trưởng.

Nên sử dụng sàng ăn để chắc chắn tôm ăn hết thức ăn đã cho.

Một số người nuôi cố gắng cho hết thức ăn vào sàng ăn, nhưng cách làm này ít khi khả thi trong các ao nuôi bán thâm canh và ao nuôi lớn.

Nên rải đều thức ăn khắp ao thì càng tốt để ngăn ngừa tích tụ thức ăn tại một số chỗ ở đáy ao.

Sự tích tụ thức ăn ở đáy ao có thể dẫn đến suy giảm chất lượng môi trường đất.

Nếu có thể thì nên cho ăn nhiều hơn một lần mỗi ngày để tăng tỷ lệ thức ăn tiêu thụ của tôm.

Chất lượng nước ao suy thoái, đặc biệt là hàm lượng oxy hòa tan thấp gây căng thẳng cho tôm và giảm tỷ lệ bắt mồi.

Tôm cũng dễ bị nhiễm bệnh, sự chuyển đổi thức ăn thành thịt tôm kém hiệu quả và tỉ lệ chết cao hơn.

Vì vậy, người nuôi tôm nên cố gắng duy trì chất lượng nước tốt bằng cách kiểm soát mật độ thả hợp lý, lượng thức ăn và phân bón cho ao ở mức độ vừa phải.

Ao nên thả ở mật độ hợp lý để không đòi hỏi lượng thức ăn đầu vào nhiều.

Khi bị căng thẳng hoặc bị bệnh thì tôm ăn yếu.

Vì vậy, trong thời gian tôm ăn yếu thì nên giảm lượng thức ăn đầu vào để giảm thiểu chất thải.

Tuy nhiên, thời tiết u ám không phải là lý do tốt để giảm lượng thức ăn đầu vào nếu tôm đang ăn mạnh và hàm lượng oxy hòa tan ở trong phạm vi bình thường.

Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) là một trong những biến số quan trọng nhất trong nuôi tôm.

Nông dân nên cẩn thận lưu giữ nhật ký cho ăn ở mỗi ao để tính toán FCR. Mục đích là để giảm giá trị FCR càng thấp thì người nuôi càng có lợi. tag: phần mềm phối trộn thức ăn

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/thuc-hanh-cho-tom-an-36713.html