Author Archives: Minh Quốc

Quản lý môi trường ao nuôi và sức khỏe tôm giai đoạn chuyển mùa

Bên cạnh đó, sau những cơn mưa thường xuất hiện nắng nóng gay gắt làm tôm giảm sức đề kháng từ đó làm tăng nguy cơ bùng phát mầm bệnh gây thiệt hại cho tôm nuôi. tag: phần mềm quản lý ao

Quản lý môi trường ao nuôi và sức khỏe tôm giai đoạn chuyển mùa

Để hạn chế những tác động xấu do biến động thời tiết giai đoạn đầu mùa mưa, bà con nuôi tôm cần áp dụng các biện pháp sau đây để ổn định môi trường ao nuôi và tăng sức đề kháng cho tôm:

– Quản lý pH:

pH là yếu tố dễ biến động nhất sau những cơn mưa lớn, sự biến động đột ngột của pH có thể làm tôm giảm sức đề kháng.

Vì vậy, bà con nên kiểm tra pH cứ 2 giờ một lần trong lúc trời mưa và ngay sau khi mưa để điều chỉnh kịp thời. Duy trì pH ở mức thích hợp từ 7,5 – 8,5 và dao động giữa sáng và chiều không quá 0,5 đơn vị.

Nếu pH thấp, bà con sử dụng vôi nông nghiệp CaCO3 (bà con thường gọi là vôi canxi) liều lượng từ 10 – 20 kg/1000m3 nước ao tùy giá trị pH đo được.

Ngoài ra, để hạn chế phèn trên bờ ao rửa xuống ao khi mưa làm giảm pH và đục nước, bà con nên sử dụng vôi đá sống CaO rải đều trên bờ ao. Vôi sẽ giúp trung hòa acid tránh giảm pH đột ngột và giúp nước ao không bị đục sau khi mưa.

– Quản lý độ kiềm:

Mùa mưa là thời điểm độ kiềm trong ao tụt giảm làm ảnh hưởng đến quá trình lột xác của tôm, làm tôm chậm lớn, giảm tỷ lệ sống hay thường gặp hiện tượng tôm bị mềm vỏ kéo dài do độ kiềm dưới mức thích hợp đặc biệt đối với vùng nuôi có độ mặn thấp hay nuôi tôm trong ruộng lúa.

Độ kiềm thích hợp cho tôm sú từ 80 – 140 mg/l và 120 -150 mg/l đối với tôm thẻ. Nếu độ kiềm thấp có thể sử dụng vôi Dolomite liều lượng 20 – 30 kg/1000m3 hoặc sử dụng vôi canxi nếu pH thấp.

– Quản lý mực nước:

Đối với những ao có mực nước thấp chất lượng nước sẽ biến động lớn sau những cơn mưa hoặc khi trời nắng nóng gay gắt.

Vì vậy, cần duy trì mực nước tối thiểu là 1,3m đối với ao nuôi tôm sú và 1,5m đối với ao nuôi tôm thẻ.

Ngoài ra, biện pháp tăng cường quạt nước trong khi mưa lớn hay khi trời nắng gắt sẽ giúp xáo trộn nước tránh hiện tượng phân tầng trong ao từ đó hạn chế những tác động xấu cho tôm nuôi.

– Kiểm soát tảo:

Đối với những ao nuôi 2,5 tháng trở lên, sau khi trời mưa liên tục vài ngày, mật độ tảo thường tăng cao.

Nguyên nhân chủ yếu thường là cho ăn thừa trong những ngày mưa.

Một trong những biện pháp kiểm soát hữu hiệu lượng chất thải cũng như mật độ tảo trong ao là giảm khoảng 20 – 30% lượng thức ăn khi trời mưa bởi vì nhiệt độ thấp tôm sẽ giảm bắt mồi. tag: phần mềm quản lý trang trại

Hơn nữa, để tránh thất thoát thức ăn trong những ngày trời âm u thì nên bắt đầu cho tôm ăn trễ hơn khi mặt trời mọc, lúc đó tảo bắt đầu quang hợp đảm bảo đủ oxy hòa tan để tôm bắt mồi và tiêu hóa thức ăn.

Ngoài ra, bà con có thể sử dụng mật đường riêng lẻ hoặc kết hợp với men vi sinh với liều lượng 2 – 3 kg/100m3 định kỳ 5 – 7 ngày kết hợp tăng cường chạy quạt cung cấp oxy cũng là giải pháp kích thích vi khuẩn có lợi trong ao phát triển tăng cường phân hủy các chất hữu cơ, hạn chế tảo phát triển quá mức.

– Hạn chế mầm bệnh trong ao:

Bằng cách diệt khuẩn nước ao, trong những trường hợp cần thiết như màu sắc tôm thay đổi xấu, tôm đóng rong, đóng nhớt, bị phồng đuôi, đứt đuôi, đứt râu.

Đặc biệt sau đợt mưa nhiều ngày vi khuẩn có hại gây bệnh thường bùng phát theo sự tích tụ hữu cơ trong ao.

Do đó, sau khi kết thúc đợt mưa chuyển sang thời tiết nắng cần diệt khuẩn để giảm mật độ vi khuẩn có hại, giảm bớt mầm bệnh và cấy vi sinh lại sau 2 ngày để tăng cường vi khuẩn có lợi cho ao.

Một số chất diệt khuẩn có thể ảnh hưởng đến tảo và sức khỏe tôm vì vậy, bà con cần lưu ý chọn loại diệt khuẩn tương đối an toàn  và phải kiểm tra sức khỏe tôm trước khi sử dụng.

– Quản lý sức khỏe tôm:

Ngoài việc quan sát phản ứng, màu sắc, đường ruột, gan tụy và phân tôm hàng ngày thông qua kiểm tra sàng ăn, bà con cần chài tôm định kỳ 5 – 7 ngày hoặc sau khi ao nuôi có những diễn biến xấu như chất lượng nước xấu hay mưa kéo dài để kiểm tra sức khỏe tôm nhằm có biện pháp xử lý kịp thời khi phát hiện những dấu hiệu bất thường như tôm búng yếu, phân lỏng, đường ruột đứt khút, gan tụy mờ nhạt,…

Bên cạnh đó, bà con cần tăng cường sức đề kháng cho tôm trong giai đoạn thời tiết bất lợi bằng cách tăng cường (tức là trộn vào thức ăn với liều lượng cao hơn thông thường) các chất bổ sung như Vitamin C, khoáng, vi sinh đường ruột (men tiêu hóa), chất bổ gan, chất tăng đề kháng beta-glucan để tăng sức chống chịu cho tôm nuôi.

Trên đây là một số giải pháp kỹ thuật nhằm quản lý môi trường ao nuôi tôm trong điều kiện thời tiết chuyển mùa vào mùa mưa.

Hy vọng với những biện pháp vừa nêu trên kết hợp với kinh nghiệm và quan sát tại ao nuôi bà con nuôi tôm sẽ có những cách xử lý kịp thời nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng xấu đến tôm nuôi và sẽ có vụ mùa thành công. tag: quản lý trang trại trực tuyến

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/quan-ly-moi-truong-ao-nuoi-va-suc-khoe-tom-giai-doan-chuyen-mua-36717.html

Lưu ý nuôi tôm nước lợ mùa nắng nóng

Dễ làm biến động môi trường

Lưu ý nuôi tôm nước lợ mùa nắng nóng

Theo Chi cục Thủy sản tỉnh Tiền Giang, tình trạng nắng nóng kéo dài trong những ngày vừa qua làm môi trường ao nuôi tôm nước lợ dễ biến đổi đột ngột, nhất là yếu tố pH và nhiệt độ nước. tag: phần mềm quản lý ao

Từ đó, làm tôm nuôi bị sốc môi trường, sức khỏe yếu và rất dễ bùng phát dịch bệnh.

Nắng nóng còn làm nước ao tôm bốc hơi nhanh, độ mặn trong ao cũng tăng theo, tôm dễ phát sinh bệnh hoại tử gan tụy.

Bên cạnh đó, nắng nóng cùng với độ mặn tăng cao làm các loại cây cỏ thủy sinh trong ao tôm bị chết và phân hủy nhanh là nguồn dinh dưỡng cho tảo phát triển mạnh, kéo theo sự biến đổi về độ trong của nước trong ao.

Tảo xuất hiện với mật độ dày cũng là nguyên nhân gây ra hiện tượng tôm nổi đầu vào buổi sáng do thiếu ôxy, nếu nặng sẽ chết hàng loạt.

Nước trong vuông nuôi cạn cũng là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi pH của môi trường nuôi tôm.

Đối với những vùng đất có nhiều phèn thì pH sẽ xuống thấp do phèn từ trong đất của nền đáy ao và bờ bao xì ra ao tôm.

Những yếu tố môi trường ao nuôi tôm càng thay đổi đột ngột hơn khi xuất hiện những cơn mưa trái vụ hay mưa đầu mùa với lưu lượng nước lớn.

Khi đó, nước mưa sẽ cuốn trôi phèn từ bờ ao xuống ao nuôi tôm làm pH giảm thấp, nhiệt độ phân tầng, dẫn đến hiện tượng tôm yếu bị chết đột ngột, mất khả năng đề kháng và dễ mắc bệnh.

Tuân thủ quy tắc quản lý ao tôm

Trong nuôi tôm, việc quản lý tốt các yếu tố môi trường nước trong vuông là rất quan trọng. Nếu giữ được sự ổn định các yếu tố nhiệt độ, độ mặn, pH, độ kiềm, ôxy hòa tan… trong ngưỡng thích hợp sẽ giúp tôm phát triển tốt.

Do đó phải thường xuyên kiểm tra các yếu tố môi trường và theo dõi hoạt động của tôm.

Người nuôi cần xây dựng ao lắng riêng, chủ động được nguồn nước và xử lý nước trước khi lấy vào ao nhằm tạo các yếu tố môi trường thuận lợi nhất cho sự phát triển của tôm cũng như hạn chế mầm bệnh từ bên ngoài. tag: phần mềm quản lý trang trại

Đồng thời, cần chủ động duy trì mực nước trong ao (trên 1,2 m) để hạn chế ảnh hưởng bất lợi của tình trạng nắng nóng.

Thường xuyên kiểm tra, gia cố bờ bao sau mỗi vụ nuôi để tránh tình trạng nước rò rỉ từ ngoài vào hay từ ao này sang ao khác.

Nếu nước trong ao tôm có màu đậm, pH cao cần lập tức tiến hành thay 20% lượng nước hoặc cấp thêm nước vào ao nuôi thông qua ao lắng.

Vào mùa nắng nóng, đôi khi xuất hiện mưa trái mùa làm môi trường nước biến động, cần theo dõi, quản lý ao nuôi, đề phòng tôm bị sốc, ảnh hưởng đến hoạt động sống. Khi thấy có dấu hiệu mưa, cần rải vôi xung quanh ao tôm với liều lượng 10 – 15 kg/100 m2 để hạn chế phèn rửa trôi xuống ao nuôi.

Bên cạnh đó, nắng nóng thường làm độ mặn tăng cao, độ trong thấp, rong tảo phát triển nhiều, pH dao động trong ngày lớn, ôxy giảm thấp vào ban đêm… dẫn đến tôm chậm lớn, bị đỏ thân do thiếu ôxy…

Nếu có điều kiện, cần cấp nước để bù vào lượng nước bốc hơi. Nên cấp nước từ từ, khoảng 20 – 30% lượng nước trong ao, cấp vào lúc trời mát, khoảng sau 19 giờ đêm, cấp nước cần qua ao lắng và xử lý.

Nên sử dụng chế phẩm sinh học (men vi sinh) định kỳ giúp ổn định môi trường, hạn chế khí độc trong ao nuôi.

Sau những trận mưa, người nuôi phải kiểm tra các yếu tố môi trường trong vuông nuôi, để có những biện pháp khắc phục kịp thời, xả bớt lớp nước mặt, hay dùng quạt, xuồng máy chạy đảo trong vuông để phá vỡ sự phân tầng nhiệt độ nước.

Ngoài ra, nên thả nuôi tôm với mật độ vừa phải để dễ quản lý.

Trong suốt quá trình nuôi, cũng nên ghi sổ nhật ký theo dõi các hoạt động hàng ngày để thuận tiện cho việc quản lý sức khỏe tôm nuôi, cũng như phục vụ truy xuất nguồn gốc sản phẩm. tag: quản lý trang trại trực tuyến

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/luu-y-nuoi-tom-nuoc-lo-mua-nang-nong-36718.html

Silic, tảo cát trong nuôi trồng thủy sản

Tảo cát có giá trị dinh dưỡng tốt và không làm suy giảm chất lượng nước, vì vậy người nuôi tôm thường cố gắng tăng mức độ tảo cát cân xứng với các loại tảo khác. tag: phần mềm quản lý ao

Để hỗ trợ tảo cát sinh trưởng, người nuôi nên sử dụng các sản phẩm silica có 20% silic.

Silic, tảo cát trong nuôi trồng thủy sản

Tuy nhiên, silicat có giá trị trung hòa thấp hơn vôi hoặc vôi nông nghiệp – là loại rẻ hơn và sẵn có hơn.

Tiến sĩ Claude E. Boyd, Khoa Thủy sản và Liên minh nuôi trồng thủy sản

Đại học Auburn, Auburn, Alabama 36849 USA

Các ao nuôi trồng thủy sản đều mong muốn có mức độ tảo cát đáng kể vì tảo cát có giá trị dinh dưỡng cao, đặc biệt khi nuôi tôm nhỏ.

Silic có nhiều trong vỏ trái đất và chỉ đứng thứ hai sau oxy.

Nhiều loại cát gồm cả silica (silic dioxide hoặc SiO2) và khoáng vật sét là silicat nhôm ngậm nước.

Các khối nước tự nhiên chứa silic do sự hòa tan của khoáng silicat với nước mà chúng tiếp xúc.

Ví dụ, silic dioxide phản ứng trong nước để tạo thành axit silic là một axit yếu phần lớn không bị ion hóa trong phạm vi pH của hầu hết các khối nước tự nhiên.

Khi canxi silicat phản ứng với cacbon dioxide trong nước, các chất hòa tan cuối cùng là các ion canxi, ion bicarbonate (kiềm) và axit silic.

Hàm lượng silic trong nước tự nhiên điển hình được báo cáo ở dạng SiO2 và thường nằm trong khoảng từ 5 đến 25 mg/L trong nước ngọt. Mức trung bình phổ biển của silica trong nước sông là 13,1 mg/L. Nước biển bình thường chứa 6,4 mg/L silica. Hàm lượng silica có thể được chuyển sang silic cô đặc bằng cách nhân với hệ số 0,467 – tỷ lệ silic trong SiO2.

Thực vật hấp thu axit silic từ nước. Silic ở các loài thực vật bậc cao được tích lũy vào thành tế bào, làm thân và lá khỏe mạnh cứng cáp.

Trong số thực vật phù du, tảo cát có nhu cầu đặc biệt là silic do lớp vỏ của chúng – thành tế bào cứng nhưng xốp – được cấu tạo gần như hoàn toàn bởi silica.

Tùy thuộc vào các loài, thực vật có từ ít hơn 0,1% đến nhiều là 10,0% silic tính theo cơ sở trọng lượng khô.

Tảo cát có lượng silic nhiều nhất.

Tảo cát và Silic

Tỷ lệ cacbon : nitơ : silic : phốt pho trong các tế bào tảo cát trung bình là 106:15:16:1. Như thế, tảo cát cần lượng nitơ và silic tương đương nhau để phát triển. Có bằng chứng cho thấy tỉ lệ nitơ : silic trên 3:1 làm giảm tốc độ phát triển của tảo cát.

Cũng có ý kiến ​​cho rằng tảo cát phát triển nhiều tương xứng với loài tảo khác khi tỷ lệ nitơ : phốt pho trong nước lớn. Giả thuyết này chưa được chứng minh qua nghiên cứu, hơn nữa tảo – kể cả tảo cát – xu hướng có tỷ lệ nitơ : phốt pho khoảng 15:1.

Nước biển không ô nhiễm điển hình có hàm lượng nitrat nitơ lớn hơn amoni nitơ. Do tảo cát phát triển mạnh trong nước biển nên thường được cho rằng chúng ưa nguồn nitơ là nitrat hơn amoni. Ngoài ra, amoni có xu hướng làm giảm sự hấp thu nitrat của thực vật phù du và amoni là nguồn nitơ ưa thích của tảo lục và tảo lam.

Các ao nuôi trồng thủy sản điển hình có hàm lượng nitơ amoni cao hơn nitơ nitrat, một yếu tố có vẻ như để ngăn cản sự phát triển của tảo cát và tạo thuận lợi cho tảo lục và tảo lam phát triển.

Các nghiên cứu về các hồ vùng ôn đới đã cho thấy tảo cát thường nở hoa vào mùa xuân, nhưng hiện tượng này dẫn đến hàm lượng silica giảm. Một khi hàm lượng silic giảm, các loài thực vật phù du khác mà không cần silic thường thay thế và trội hơn tảo cát. tag: phần mềm quản lý trang trại

Sử dụng phân bón như natri nitrat và natri silicat theo tỷ lệ nitơ : silic là 1:1 trong nước có độ mặn 9-10 ppt và chứa 0,21 mg/L silica tại Trung tâm Nuôi trồng Hải sản Peteet Claude ở Vịnh Shores, Alabama, Hoa Kỳ đã được nhận thấy là khá hiệu quả làm tăng mức độ tảo cát và tỷ lệ của chúng trong tổng số thực vật phù du.

Tất nhiên, ở tình trạng này, hàm lượng silica rất thấp – nước biển bình thường chứa 6,4 mg/L silica.

Tảo cát phát triển khá tốt ở hàm lượng silic có trong nước biển và chưa biết được hàm lượng silic phải giảm xuống như thế nào trước khi mức tăng trưởng của tảo cát bị tác động xấu.

Thúc đẩy tảo cát sinh trưởng

Thảo luận trên đây cho thấy mối quan hệ giữa độ nhiều tương đối của tảo cát, tỷ lệ nitơ : silic, hàm lượng silic và mức sẵn có nitrat.

Tảo cát được xem là nhóm tảo mong muốn có trong các ao nuôi trồng thủy sản vì hiếm khi liên quan đến chất lượng nước suy giảm và có giá trị dinh dưỡng tốt cho nhiều loài thủy sản và đặc biệt cho tôm giống postlarvae.

Mặc dù đã có một chút nỗ lực để thúc đẩy tảo cát tăng trưởng trong nuôi trồng thủy sản nước ngọt, người nuôi tôm – đặc biệt là ở Trung và Nam Mỹ – thường cố gắng để tăng mức độ tảo cát nhiều tương xứng với các loài tảo khác ở nước biển và nước lợ.

Kỹ thuật chính được sử dụng để thúc đẩy tảo cát phát triển là phân bón silicat, nhưng phân bón natri nitrat cũng là cách thực hành phổ biến.

Sử dụng phân bón silicat cần lưu tâm chút ít đến hàm lượng silic trong các ao và dường như không chắc đúng với các ao có hàm lượng silic gần với hàm lượng có trong nước biển bình thường sẽ phản ứng với phân bón silicat.

Cách làm thận trọng sẽ là đo hàm lượng silic và nếu dưới 6,4 mg SiO2/L – giá trị trong nước biển, có thể dùng silicat với nỗ lực để đạt được hàm lượng nhắm tới.

Mong muốn để biết được mối quan hệ giữa hàm lượng silica và mức tăng trưởng của tảo cát, nhưng chủ đề này chưa được nghiên cứu trong các ao nuôi trồng thủy sản.

Thiếu thông tin về các mối quan hệ giữa các tỷ lệ phân bón silicat và hàm lượng silic trong nước, silica biến mất nhanh khỏi nước như thế nào cũng làm phức tạp những nỗ lực để thức đẩy tảo cát tăng trưởng.

Tuy nhiên, giả sử hòa tan hoàn toàn phân bón silicat thì 1 mg/L SiO2 sẽ cần 2,03 mg/L natri metasilicat hoặc 1,93 mg/L canxi metasilicate.

Ở 1 ao rộng 1 ha sâu 1 m, mức xử lý cần thiết để có được 1 mg/L SiO2 tương ứng sẽ là 20,3 và 19,3 mg/L đối với natri metasilicate và canxi metasilicate.

Phân bón silicat không hòa tan hoàn toàn khi rải khắp ao và nên sử dụng gấp 1,5 – 2,0 lần mức ước tính trên để tăng hàm lượng silic theo 1 mg SiO2/L.

Phân bón silicat

Một số cửa hàng cung cấp phân bón tiêu chuẩn chứa 2,5 – 5,0 % SiO2.

Ở mức sử dụng điển hình từ 10 – 20 kg/ha, việc bổ sung silica sẽ không làm tăng đáng kể hàm lượng silic hòa tan.

Vì vậy, người nuôi nên sử dụng một sản phẩm silica có 20,0% silic (khoảng 43,0% SiO2) hơn là trông cậy vào một lượng nhỏ silica thường có trong các loại phân bón tiêu chuẩn.

Phân bón silicat cũng là các loại vôi có thể trung hòa độ chua đất đáy ao và nâng tổng kiềm trong nước ao. tag: quản lý trang trại trực tuyến

Ví dụ với canxi silicat, các ion canxi cho vào trầm tích có tính axit sẽ thay thế các ion mang tính axit trong đất. Các ion hydro từ sự thay thế của các ion có tính axit từ đất liên kết trong axit silic không phân ly:

CaSiO3 + 2H+ + H2O –> Ca2+ + H4SiO4

(CaSiO3 = Canxi silicat, H4SiO4 = Axit Silic)

Trong nước pH trên 5 và chứa cacbon dioxide, phản ứng như sau:

CaSiO3 + 2CO2 + 3H2O –> Ca2+ + 2HCO3- + H4SiO4

Tuy nhiên, silicat có giá trị trung hòa thấp hơn vôi hoặc vôi nông nghiệp, như đã minh họa ở Bảng 1 đối với các hợp chất tinh khiết. Vôi và vôi nông nghiệp có sẵn ở nhiều nơi và cũng rẻ hơn silicat.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/silic-tao-cat-trong-nuoi-trong-thuy-san-36719.html

Các thành phần bổ sung trong chế độ ăn

Những công nghệ mới nổi để cải thiện môi trường đường ruột đang được nghiên cứu một cách nghiêm túc và đang bắt đầu được ứng dụng trong thức ăn nuôi trồng thủy sản. tag: phần mềm quản lý ao

Các thành phần bổ sung trong chế độ ăn

Sử dụng chế phẩm sinh học trong thức ăn, dù thành công trong dinh dưỡng cho người và động vật, nhưng chưa được chấp nhận thích đáng trong nuôi trồng thủy sản.

Các phương pháp phân phát thức ăn cải tiến và những hiểu biết tốt hơn về hệ vi sinh vật đường ruột của các loài động vật thủy sản có thể thay đổi vấn đề này trong tương lai (Balcazar et al. 2006). tag: phần mềm quản lý trang trại

Sử dụng các chất kích thích miễn dịch và chế độ ăn giảm stress để tăng cường phòng vệ cho động vật trong các giai đoạn stress nguy cấp đã và đang được khuyến khích trong ngành thức ăn thương mại.

Các hỗn hợp đã từng được đề xuất như là beta-glucan, các sản phẩm vi sinh và các chất dẫn xuất từ thực vật có khả năng kích hoạt các cơ chế phòng vệ bẩm sinh bằng cách hoạt động như là các thụ thể khởi động sự hoạt hóa gen (Galindo-Villegas và Hosokawa, 2004).

Probiotic (vi khuẩn có lợi) và prebiotic (chất tiền sinh) đang trong giai đoạn nghiên cứu tương tự thu hút rất nhiều sự quan tâm (Balcazar et al., 2006).

Axit hữu cơ và các loại tinh dầu đã được đề xuất sử dụng để điều chỉnh các nhóm vi khuẩn đường ruột, tăng cường sức đề kháng đối với một số tác nhân gây bệnh đường ruột cơ hội (Luckstadt, 2008), tạo điều kiện cho hệ vi khuẩn đường ruột khỏe mạnh, đồng thời giảm mật độ các chủng vi khuẩn có khả năng gây bệnh trong đường ruột (Luckstadt, 2008; Ringo et al, 2010.)

Nhìn chung, việc áp dụng các chiến lược dinh dưỡng và dùng các chất bổ sung cho chế độ ăn có thể điều chỉnh khả năng thích ứng toàn diện, sức khỏe đường ruột và đáp ứng miễn dịch của động vật thủy sản. tag: quản lý trang trại trực tuyến

Dự kiến sẽ có nhiều sản phẩm hữu ích trong tương lai để góp phần phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững hơn bằng cách tránh sử dụng thuốc.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cac-thanh-phan-bo-sung-trong-che-do-an-36722.html

Khuyến nghị từ Advocate GAA về việc đối phó với EMS

+Loại bỏ EMS và các mầm bệnh khác từ nước ao nuôi

Khuyến nghị từ Advocate GAA về việc đối phó với EMS

+Tạo lập một quần thể vi khuẩn cân bằng. tag: phần mềm quản lý ao

+Lai giống kháng bệnh

+Thả tôm giống / postlarvae (hậu ấu trùng) khỏe mạnh

+Quản lý chặt chẽ chất lượng nước và bùn đáy ao

+Khử trùng bằng chlorine hoặc ozone để loại bỏ đa tác nhân gây bệnh

+Tạo ra một cộng đồng vi khuẩn hoàn thiện. tag: phần mềm quản lý trang trại

+Sử dụng chế phẩm sinh học và nuôi ghép để ổn định nước

+Tạo lập quần thể biofloc từ mức độ thấp đến trung bình

+Tránh cho ăn quá mức

+Loại bỏ / hút bùn thường xuyên

+Sử dụng các ao ương dưỡng để dưỡng tôm giống nhỏ cho đến khi đạt kích cỡ lớn hơn và khỏe hơn, trong lúc này cũng là để xác định tôm không nhiễm EMS

+Sử dụng các ao nuôi thâm canh an toàn sinh học

+Xác định các loại thức ăn bổ sung nhằm giảm tỷ lệ mắc EMS

+Áp dụng các kỹ thuật quản lý trang trại tổng hợp

+Tránh vị trí trang trại có đầu vào chung với kênh xả

+Xem xét khả năng tải của hệ sinh thái

+Khuyến khích phát triển các phòng thí nghiệm được trang bị tốt để phát hiện EMS tốt hơn. tag: quản lý trang trại trực tuyến

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/khuyen-nghi-tu-advocate-gaa-ve-viec-doi-pho-voi-ems-36723.html

Loài nuôi, quy mô ao nuôi xác định phương pháp sục khí

Lượng mức sục khí có thể tăng lên khi mức độ cho ăn tăng để duy trì năng lượng. Trong ao nuôi tôm thường có thể giảm sục khí từ giữa buổi sáng đến xế chiều. tag: phần mềm quản lý ao

Loài nuôi, quy mô ao nuôi xác định phương pháp sục khí

Nghiên cứu đã chứng minh có thể tiết kiệm năng lượng đáng kể bằng cách sử dụng hệ thống sục khí tự động.

Tiến sĩ Claude E. Boyd, Trường Thủy sản, Nuôi trồng Thủy sản và Khoa học Thủy sản

Đại học Auburn, Auburn, Alabama 36830, Hoa Kỳ

Người nuôi tôm bây giờ có xu hướng lắp đặt sục khí quạt guồng tương xứng đều khắp bề mặt ao để đẩy cặn lắng lan đều hơn ở đáy ao.

Ao nuôi trồng thủy sản ngày càng chuyển đổi sang thâm canh, do vậy sử dụng thức ăn nhiều hơn và sục khí cơ học là cách thực hành phổ biến.

Có nhiều loại hệ thống sục khí trong ao, nhưng hầu hết hoạt động theo một trong hai nguyên tắc.

Với sục khí “tóe nước”, nước văng vào không khí để tăng diện tích tiếp xúc giữa nước và không khí làm khuếch tán oxy từ không khí vào nước.

Ngoài ra, các bong bóng khí có thể thoát vào trong nước từ máy khuếch tán đặt gần đáy ao. Với sục khí “bọt”, những bong bóng nhỏ nổi lên qua các cột nước, tạo ra một vùng bề mặt rộng cho sự khuếch tán oxy từ không khí bên trong các bong bóng vào trong nước.

Cũng có những nỗ lực để phát triển hệ thống tiếp xúc oxy tinh khiết dùng cho ao, nhưng chưa sẵn có các thiết bị ưng ý.

Các loại sục khí

Các loại sục khí tóe nước phổ biến là bơm thẳng đứng (sục khí tuabin) và sục khí quạt guồng. Sục khí bơm cánh quạt-khuếch tán dựa trên nguyên tắc venturi để đưa các bong bóng không khí vào nước.

Hệ thống sục khí khuếch tán không khí bao gồm một máy thổi không khí được nối bằng ống đến một mạng lưới khuếch tán trên đáy ao nhả bong bóng không khí nhỏ vào nước.

Tất cả các loại sục khí này đã được sử dụng thành công trong nuôi trồng thủy sản, nhưng mỗi loại có một số ưu và nhược điểm nhất định thích hợp với một số ứng dụng này hơn là các ứng dụng khác.

Các loại sục khí bơm thẳng đứng không giúp nước lưu thông tốt và phù hợp nhất cho các ao diện tích nhỏ 0,25 ha hoặc nhỏ hơn.

Sục khí quạt guồng đặc biệt rất thích hợp cho các ao lớn hơn do tạo dòng chảy mạnh, tuy nhiên cũng có thể sử dụng một cách hiệu quả các loại sục khí quạt guồng nhỏ hơn trong các ao nhỏ như là 0,1 ha.

Độ sâu không phải là yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu suất của sục khí bơm thẳng đứng và quạt guồng, nhưng tốt nhất sử dụng trong ao có độ sâu nói chung vào khoảng 0,75 và 2,00 m.

Có thể sử dụng các loại sục khí bơm cánh quạt-khuếch tán ở đa dạng kích cỡ ao. Trong ao nông dưới 0,75 m, tuy nhiên có thể gây ra xói mòn ở đáy ao.

Các loại này có khả năng tạo ra sự lưu thông nước sâu trong các ao có độ sâu hơn 2,00 m. Sự kết hợp giữa sục khí quạt guồng và sục khí bơm cánh quạt-khuếch tán có thể hiệu quả nhất trong trộn nước ao, đặc biệt là ở các ao sâu.

Các hệ thống khuếch tán không khí có nhược điểm là hiệu suất kém ở các ao nước nông, vì thời gian lơ lửng của bong bóng trong nước quá ngắn nên khuếch tán ít oxy vào trong nước.

Hơn nữa, các hệ thống này không phù hợp cho các ao nuôi lớn bởi vì chiều dài ống quá dài và sử dụng nhiều ống khuếch tán. Các hệ thống khuếch tán không khí thích hợp nhất cho các ao rộng 0,25 ha hoặc nhỏ hơn.

Những loại sục khí này đặc biệt hợp lý với các cụm liên kết các ao nhỏ trong đó một máy thổi khí có thể cung cấp không khí đến các ống khuếch tán ở nhiều ao.

Một số nhà sản xuất đặt hệ thống khuếch tán không khí ở phía trước sục khí quạt guồng. Trong ao điển hình, nước quá nông để tạo sự vận chuyển ôxy hiệu quả bằng sục khí khuếch tán không khí.

Theo ý kiến ​​của tác giả có thể hiệu quả hơn là đơn giản đầu tư dùng nhiều sục khí quạt guồng hơn là lắp đặt các hệ thống khuếch tán không khí để hỗ trợ sục khí quạt guồng.

Cũng có thể sử dụng một số loại máy bơm thổi khí trong ao nuôi thủy sản. Dù tạo được lưu thông cột nước theo chiều dọc thì các loại máy này không phải là sục khí thực sự.

Các bong bóng nổi lên trong ống thổi khí cung cấp thêm oxy, nhưng lượng oxy vận chuyển tính trên một đơn vị năng lượng ít hơn nhiều so với các loại sục khí tiêu chuẩn.

Hiệu suất vận chuyển oxy

Hiệu suất vận chuyển oxy của các loại sục khí cơ học trong các ao khác nhau trong ngày liên quan đến nồng độ oxy hòa tan.

Nồng độ oxy hòa tan thường thấp nhất lúc sắp bình minh, tăng lên trong ngày đến đỉnh điểm vào giữa buổi chiều và sau đó giảm vào ban đêm.

Sục khí hữu hiệu nhất trong việc chuyển oxy vào nước khi không có oxy hòa tan và giảm hiệu suất khi nồng độ oxy hòa tan tăng lên.

Khi nước đã bão hòa với oxy hòa tan, sục khí làm ngừng chuyển oxy vào nước. Khi nước quá bão hòa với oxy hòa tan – thường xảy ra vào buổi chiều – sục khí làm tăng tốc độ khuếch tán oxy từ nước vào không khí.

Nồng độ oxy hòa tan tối thiểu có thể chấp nhận được đối với các ao nuôi trồng thủy sản trước kia là 2 mg/L cho hầu hết các loài nước ấm.

Tuy nhiên, dựa trên kinh nghiệm và các kết quả nghiên cứu, quan điểm này đã thay đổi. Ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu cảm thấy rằng nồng độ oxy hòa tan trong các ao nước ấm không nên giảm xuống dưới 4 mg/L.

Vi khuẩn nitrat hóa không hoạt động tốt khi nồng độ oxy hòa tan giảm xuống 2 hoặc 3 mg/L theo chuẩn hàng ngày. Do đó, việc duy trì nồng độ oxy hòa tan trên 4 mg/L cũng thúc đẩy quá trình oxy hóa nitơ amoniac có khả năng gây độc thành nitrat tương đối vô hại.

Sục khí và hệ sinh vật ao

Hầu hết các nhà sản xuất có xu hướng coi sục khí là một phương tiện cung cấp thêm oxy cho quá trình hô hấp của các loài nuôi để có thể tăng năng suất vụ chưa thu hoạch. tag: phần mềm quản lý trang trại

Đúng là vậy nhưng sục khí cũng cung cấp oxy cho vi sinh vật sử dụng để phân hủy thức ăn thừa, phân và sinh vật phù du chết. Sinh vật phù du sống cũng sử dụng oxy cho hô hấp.

Dù các thành phần tảo của sinh vật phù du tạo ra nhiều ôxy qua quá trình quang hợp hơn là sử dụng oxy trong hô hấp ban ngày nhưng tảo tiếp tục hô hấp vào ban đêm. Ngược lại, sự sản xuất oxy ngừng lại trong quá trình quang hợp tối.

Có rất nhiều sự cạnh tranh giữa vi sinh vật và các loài nuôi đối với oxy hòa tan được đưa vào nước nhờ sục khí. Cuộc cạnh tranh này không thay đổi nhiều liên quan đến mật độ nuôi trong ao nước xanh, bởi vì lượng chất thải hữu cơ và sinh vật phù du có xu hướng tăng tỷ lệ thuận với sự gia tăng mức độ cho ăn.

Sục khí và thức ăn thủy sản

Căn cứ nhu cầu oxy sinh hóa của thức ăn (khoảng 1,2 kg oxy/kg thức ăn) và hiệu suất vận chuyển oxy trung bình của các loại sục khí, cần sục khí khoảng 1 hp cho mỗi 10 kg/ha thức ăn tăng thêm hàng ngày đưa vào ao để duy trì nồng độ oxy hòa tan vào ban đêm trên 4 mg/L.

Hầu hết các ao có thể duy trì vụ nuôi chưa thu hoạch một cách an toàn là 1.000 kg/ha không có sục khí, tương ứng lượng thức ăn đầu vào hàng ngày là khoảng 30 kg/ha ở hầu hết các ao.

Vì vậy, nếu mục tiêu để sản xuất 6.000 kg/ha (180 kg thức ăn/ha/ngày ở đầu vào 3% trọng lượng thân / ngày), hiệu suất sục khí ở cuối vụ nên vào khoảng 15 hp/ha.

Tất nhiên, nếu mong muốn một hệ số an toàn thì sục khí vào cuối vụ có thể căn cứ trên toàn bộ lượng thức ăn đầu vào là ở mức 18 hp/ha. Lượng mức sục khí có thể tăng khi mức độ cho ăn tăng để bảo toàn năng lượng hơn là sử dụng toàn bộ lượng mức sục khí trong suốt thời gian nuôi.

Trong nuôi cá rô phi có thể chấp nhận nồng độ oxy hòa tan tối thiểu thấp hơn 2 hoặc 3 mg/L.

Hình thức nuôi này giảm lượng mức sục khí cần có cho mỗi 10 kg/ha thức ăn tăng thêm tương ứng với 0,5 hp hoặc 0,75 hp.

Trong nuôi cá thường có thể cho phép tắt sục khí giữa buổi sáng và không mở lại cho đến đầu chiều tối.

Tôm sống dưới đáy ao – nơi mà nồng độ oxy hòa tan thấp nhất và sự chuyển động của nước có oxy ngang qua đáy ao rất có lợi. Tuy nhiên, thường có thể giảm lượng mức sục khí trong ao nuôi tôm từ giữa buổi sáng đến đầu chiều tối.

Bố trí sục khí

Người nuôi thường xuyên hỏi về những cách tốt nhất để xác định vị trí lắp đặt sục khí trong ao và rõ ràng không có kết quả nghiên cứu cuối cùng để cho một câu trả lời có thể biện minh được.

Trong các ao cá có thể chấp nhận đặt một hoặc nhiều sục khí lớn ở một đầu ao, bởi vì cá sẽ di chuyển vào vùng nước có oxy.

Nếu ao hình chữ nhật, sục khí nên đưa dòng nước dọc theo trục dài của ao. Tôm không di chuyển đến vùng nước có oxy như là cá, vì vậy cách hợp lý là sử dụng nhiều sục khí nhỏ để cung cấp sự thông khí tương đối đều khắp toàn bộ diện tích ao.

Các hệ thống khuếch tán không khí thích hợp nhất cho các ao / bể nhỏ đủ sâu để cho oxy khuếch tán từ các bong bóng không khí nổi lên vào trong nước.

Trước kia, sục khí được bố trí trong các ao nuôi tôm để tạo một dòng chảy vòng tròn, nhưng kiểu này thường tạo cặn lắng ở vùng giữa ao.

Người nuôi tôm bây giờ có xu hướng lắp đặt sục khí tương đối đều khắp bề mặt ao để bùn cặn lắng lan đều hơn trên đáy.

Cho dù áp dụng mô hình lắp đặt sục khí nào thì đều cần phải chú ý giữ cho dòng nước mạnh không làm xói mòn bờ và tăng cặn lắng đọng trên đáy ao.

Theo dõi oxy hòa tan

Thực hiện đo oxy hòa tan thường xuyên trong ao có sục khí để đảm bảo đủ lượng mức sục khí nhằm tránh nồng độ thấp không mong muốn.

Có thể sử dụng các hệ thống tự động để tắt và mở sục khí tùy theo điểm đặt oxy hòa tan cao hơn và thấp hơn. Lợi ích thứ hai của bộ điều khiển sục khí là có thể lưu lại nồng độ oxy hòa tan theo thời gian.

Nghiên cứu đã chứng minh có thể tiết kiệm năng lượng đáng kể bằng cách sử dụng hệ thống sục khí tự động. tag: quản lý trang trại trực tuyến

Chi phí của các bộ điều khiển này đã giảm xuống và độ tin cậy tăng lên trong những năm gần đây. Tại Mỹ, rất nhiều người nuôi cá da trơn đã chấp nhận sử dụng hệ thống sục khí tự động.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/loai-nuoi-quy-mo-ao-nuoi-xac-dinh-phuong-phap-suc-khi-36724.html

Sử dụng chế phẩm vi sinh hiệu quả

Bản chất của CPVS

Là các chế phẩm có nguồn gốc từ vi sinh vật hữu ích, được tạo ra bằng con đường sinh học, rất đa dạng với nhiều tên thương mại khác nhau. Chúng gồm hai loại: loại xử lý môi trường và loại trộn vào thức ăn. tag: phần mềm quản lý ao

Sử dụng chế phẩm vi sinh hiệu quả

Thành phần của CPVS rất đa dạng, có thể chứa chỉ một loài hay rất nhiều loài vi khuẩn, có thể bổ sung thêm các men phân giải hữu cơ, các vitamin hay các chất chiết xuất sinh học… CPVS thường được tạo nên từ 3 thành phần:

– Các chủng vi khuẩn có lợi, có thể tham gia sử dụng và phân hủy các hợp chất hữu cơ như: Bacillus sp., Nitrobacter sp., Nitrosomonas sp., Clostridium sp, Cellulomonas sp, Lactobacillus sp, L.acidophillus, L.casei, L.rhamnosus, L.bulgaricus, Streptococcus sp., Sacharomyces sp

– Các loại enzyme hữu cơ, xúc tác cho quá trình phân hủy của các vi sinh vật như: Protease, Lypase, Amyllase, Chitinnase…

– Các chất dinh dưỡng sinh học để kích hoạt sinh trưởng ban đầu hệ vi khuẩn có lợi.

Công dụng của CPVS

CPVS được sử dụng để phân hủy các hợp chất hữu cơ như thức ăn thừa, phân tôm, xác chết của tảo và sinh vật trong ao…, làm cho đáy ao và chất lượng nước tốt hơn, hạn chế ô nhiễm nước.

Các vi khuẩn có trong CPVS sẽ chuyển hóa các khí độc trong nước thành dạng không độc (như vi khuẩn  Nitrosomonas spp chuyển hóa NH3 thành NO2 và Nitrobacter spp; chuyển hóa NO2 thành NO3, Rhodobacter spp; và Rhodococcus spp có khả năng làm giảm H2S trong bùn đáy ao…).

Ngoài ra, sự phát triển mạnh của các vi khuẩn có lợi sẽ cạnh tranh, chiếm chỗ và át chế sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh.

CPVS còn có thể ổn định sự phát triển của tảo từ các sản phẩm như CO2 và các loại muối dinh dưỡng thông qua hoạt động phân hủy của các vi khuẩn, đồng thời kìm hãm tảo đáy phát triển. tag: phần mềm quản lý trang trại

CPVS trộn vào thức ăn, khi vào cơ thể tôm, thúc đẩy quá trình tiêu hóa thức ăn, giúp tôm hấp thụ tối đa thức ăn, đồng thời phát triển mạnh hạn chế sự phát triển của vi khuẩn có hại trong đường ruột.

Cách sử dụng hiệu quả

Để sử dụng hiệu quả CPVS trong nuôi tôm, cần phải thực hiện các biện pháp sau:

Do vòng đời của vi khuẩn trong chế phẩm vi sinh ngắn (7 – 10 ngày) nên muốn duy trì được hệ vi khuẩn có lợi trong ao nuôi để kìm hãm vi khuẩn gây bệnh chuyển hóa khí độc và phân hủy mùn bã hữu cơ thì phải bón CPVS định kỳ cho ao nuôi (7 – 12 ngày/lần).

Cần ổn định các yếu tố môi trường để tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn trong CPVS sinh trưởng, sinh sản và phát triển.

Tùy theo thành phần CPVS mà hoạt động sống, sinh sản của chúng chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường (nhiệt độ, độ mặn, pH, ánh sáng, hóa chất, kháng sinh).

Nhiệt độ càng cao (trong khoảng thích hợp) thì tốc độ phân hủy của vi sinh càng nhanh

. Nhiệt độ thích hợp của hầu hết các vi sinh vật từ 26 – 300C, khi nhiệt độ hạ (< 180C) tỷ lệ sinh trưởng sẽ giảm 50%. Nitrosomonas và Nitrobacter là hai vi khuẩn mẫn cảm ánh sáng, đặc biệt ánh sáng màu xanh dương và tím.

Độ pH thích hợp cho Nitrosomonas từ 7,8 – 8 và Nitrobacter 7,3 – 7,5. Nitrobacter sẽ tăng trưởng chậm hơn ở pH cao tại các ao nuôi có độ mặn cao.

Cần chọn loại CPVS có tính năng phù hợp mục đích sử dụng, như CPVS chứa vi khuẩn BacillusPseudomonas tham gia chuyển hóa các chất hữu cơ thành CO2 và nước, nhóm Nitrosomonas và Nitrobacter chuyển các chất độc hại như NH3, NO2 thành chất không độc NO3-.

Vi khuẩn Nitrosomonas thường sống ở bùn đáy ao và chỉ tồn tại được một thời gian ngắn trong nước nhờ chất dự trữ trong tế bào, khi chất này hết chúng sẽ chết.

Đa số các nhóm vi khuẩn trong CPVS khi bón vào nước đều chịu ảnh hưởng bởi ôxy hòa tan, do vậy cần cung cấp đủ và duy trì hàm lượng ôxy trong nước (> 4mg/l) giúp chúng sinh trưởng và phát triển tốt.

Không nên bón CPVS khi đang dùng hóa chất (BKC, thuốc tím, Chlorine, Iodine…) khử trùng nước và không trộn men vi sinh cho tôm ăn khi đang điều trị bằng thuốc kháng sinh, bởi các hóa chất và kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn làm giảm hiệu quả của CPVS. tag: quản lý trang trại trực tuyến

Sản sinh ra vi khuẩn có lợi ức chế vi khuẩn có hại, cạnh tranh chất sắt, thức ăn và nơi cư trú với vi khuẩn có hại. Tăng cường các phản ứng miễn dịch đối với tôm nuôi, ổn định sự phát triển của tảo và cải thiện chất lượng nước.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/su-dung-che-pham-vi-sinh-hieu-qua-36725.html

Cách tạo ôxy trong ao

Hàm lượng ôxy hòa tan

Động vật nói chung và tôm nói riêng đều rất cần ôxy để duy trì hoạt động sống. Nhu cầu ôxy của tôm tùy thuộc từng loài, từng giai đoạn phát triển của chúng. tag: phần mềm quản lý ao

Cách tạo ôxy trong ao

Hàm lượng ôxy hòa tan trong nước là do sự khuếch tán không khí vào nước, được sinh ra trong quá trình quang hợp của thực vật thủy sinh (rong tảo).

Lượng ôxy này được tôm tiêu thụ bởi hô hấp và quá trình phân hủy mùn bã hữu cơ, hoạt động của vi khuẩn cùng các phản ứng hóa học trong nước.

Quá trình quang hợp chỉ xảy ra ban ngày nhưng quá trình hô hấp và phân hủy lại xảy ra cả ngày lẫn đêm.

Do vậy sẽ dẫn đến có sự thay đổi lớn hàm lượng ôxy hòa tan trong nước.

Buổi tối, quang hợp không xảy ra, nhu cầu tiêu thụ ôxy trong ao không thay đổi dẫn đến lượng ôxy hòa tan giảm dần và xuống thấp nhất vào thời gian từ nửa đêm đến gần sáng.

Hiện nay, nuôi tôm công nghiệp mật độ thả cao và ít thay nước, ngoài hàm lượng ôxy trong nước được tôm tiêu thụ thì một lượng ôxy cần thiết để phân hủy chất thải và các khí độc trong ao là rất lớn.

Chính vì vậy, đảm bảo cung cấp đủ ôxy trong nước là rất cần thiết. Cần phải tính toán và bố trí các thiết bị sục khí phù hợp, nhằm duy trì hô hấp của tôm và cân bằng hệ sinh thái trong ao nuôi.

Các biện pháp tạo ôxy

Để đảm bảo nhu cầu ôxy hòa tan trong nước ao nuôi tôm, cần có những biện pháp như gây nuôi tảo, lắp đặt dàn quạt nước và hệ thống sục khí.

Gây nuôi tảo

Tảo là nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm và cũng là nguồn cung cấp ôxy hòa tan quan trọng ao nhờ quang hợp.

Tảo phát triển mạnh hay yếu phụ thuộc hàm lượng dinh dưỡng trong nước. Vậy để duy trì và ổn định số lượng tảo trong nước, cần sử dụng một số loại bột ngũ cốc, bột cá… để gây màu nước, tăng số lượng tảo khi ao nghèo dinh dưỡng.

Đồng thời có thể dùng các loại hóa chất như vôi (CaO), các sản phẩm chứa Clo để giảm tảo trong ao khi chúng phát triển mạnh, nhằm tránh hiện tượng gây thiếu ôxy và ô nhiễm nước khi tàn.

Quạt khí

Bao gồm một trục được nối với trục mô tơ điện hoặc động cơ, trên trục có lắp 10 – 15 cánh quạt, cánh quạt có thể là cánh nhựa hoặc cánh lông nhím.

Với kết cấu vững chắc, khi vận hành quạt nước có thể tạo nhiều bọt nước, làm tăng lượng ôxy hòa tan.

Quạt cánh nhựa có giá rẻ được sử dụng nhiều trong các hộ nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh; ngoài những ưu điểm như cung cấp ôxy cho tôm nuôi, tạo nên dòng chảy kích thích sự vận động của tôm và quy tụ chất thải dư thừa vào một khu vực giữa ao đồng thời giúp thuốc, chế phẩm hóa chất được phân bố đều trong nước ao.

Tuy nhiên sử dụng quạt cánh sẽ không đưa được nhiều lượng ôxy hòa tan xuống tầng đáy để cung cấp cho tôm và phân hủy chất thải hữu cơ.

Đối với quạt lông nhím có thể tăng hàm lượng ôxy hòa tan và tạo dòng chảy gấp 2 lần so với quạt cánh. tag: phần mềm quản lý trang trại

Thực tế cho thấy quạt lông nhím có thể đưa được ôxy xuống tầng đáy cung cấp cho hô hấp của tôm và phân hủy của vi khuẩn phù hợp nuôi tôm thẻ chân trắng mật độ cao

. Nhưng quạt lông nhím chỉ phù hợp ao nuôi tôm đáy cát, đáy lót bạt. Nếu ao nhiều bùn và mùn bã hữu cơ, do lực tạo dòng chảy mạnh, quạt lông nhím sẽ làm nước ao bị vẩn đục nhanh, ảnh hưởng xấu đến hô hấp của tôm.

Hệ thống thổi khí

Hệ thống thổi khí được hút từ không khí và nén tạo áp suất cao trong máy nén; sau đó không khí được dẫn qua hệ thống ống và khuyếch tán vào nước qua ống nhựa đục lỗ nhỏ, đĩa đá bọt hoặc ống nhựa tổng hợp đã có khe nứt sẵn khi đúc.

Ôxy được khuyếch tán vào nước bằng sức ép từ bọt khí hình thành khi thổi, bọt càng nhỏ hiệu quả càng cao.

Ưu điểm của hệ thống này là có thể vừa vận hành vừa cho tôm, cá ăn;

Hàm lượng ôxy tạo ra cao hơn so với quạt nước cùng công suất và có thể duy trì hàm lượng ôxy hòa tan trong nước đạt trên 5 mg/lít vào thời điểm nửa đêm về sáng; Ít gây stress cho tôm và không sợ bị điện giật vì máy nén khí nằm trên bờ.

Tuy nhiên, do giá bán khá cao và trong quá trình sử dụng phải vệ sinh nhiều lần (do rong tảo, hầu hà bám lên ống, đá bọt làm tắc khí thoát ra) nên hệ thống này chủ yếu được sử dụng ở các trại sản xuất tôm giống và các mô hình nuôi tôm công nghệ cao trong nhà kính với diện tích không lớn.

Sục lủi là hệ thống được vận hành dựa trên nguyên lý chân vịt đặt trong nước (tầng giữa) và khi vận hành sẽ hút không khí bên trên đưa vào vòng xoay của chân vịt đang quay để ôxy dễ hòa tan vào nước.

Thiết bị này nhỏ, gọn, tính cơ động cao và dễ dàng di chuyển nhưng công suất không lớn nên thường được sử dụng ở các vèo ương dưỡng tôm và ao nuôi trong nhà bạt. tag: quản lý trang trại trực tuyến

> Vì tôm nuôi thường ở mật độ cao nên dễ thiếu ôxy, nhất là thời gian sau 45 ngày thả nuôi. Khi đó, tôm có biểu hiện giảm ăn, chậm lớn và mang chuyển màu hồng; nếu tình trạng này kéo dài thì tôm sẽ bị nổi đầu và chết hàng loạt.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cach-tao-oxy-trong-ao-36729.html

Nâng cao chất lượng môi trường nước

Hiện nay chất lượng nguồn nước cung cấp cho các hoạt động nuôi trồng thủy sản đang bị suy giảm nghiêm trọng so với những năm trước đây, gây ảnh hưởng trực tiếp đến các đối tượng nuôi.

Nâng cao chất lượng môi trường nước

Môi trường nước ảnh hưởng trực tiếp đến các đối tượng nuôi 

Nguyên nhân gây ô nhiễm nước trong hoạt động thủy sản được phân thành hai loại, cụ thể: tag: sục khí đáy

Ô nhiễm nước trong hệ thống nuôi trồng thủy sản: Do thức ăn thừa, chất thải của thủy sản nuôi và các hóa chất sử dụng trong quá trình nuôi hòa tan vào nước trong ao nuôi và phần lớn tích tụ ở đáy ao nuôi tạo thành một lớp bùn ô nhiễm. Thành phần lớp bùn: protein, lipid, axit béo, photpholipid, các hoocmon, carbohydrate, chất khoáng và vitamin, vỏ tôm lột xác… Lớp bùn này luôn ngập nước, yếm khí nên tạo điều kiện cho các vi sinh vật yếm khí phát triển mạnh, phân hủy các hợp chất trên thành các khí độc H2S, NH3, CH4… hòa tan vào trong nước và rất có hại cho thủy sinh vật. Khi H2S đạt nồng độ 1,3 ppm có thể sẽ gây sốc, tê liệt và dẫn đến tôm chết. NH3 sinh ra từ quá trình phân hủy yếm khí thức ăn tồn dư gây độc cho tôm, cá nuôi, khi chuyển hóa ở dạng NO2- sẽ rất độc và gây chết cho tôm, cá ở từ nồng độ 0,5 ppm trở lên.

Ô nhiễm nước bên ngoài hệ thống nuôi trồng thủy sản: Nguồn nước bên ngoài hệ thống nuôi thủy sản bị ô nhiễm do nguồn nước thải nuôi thủy sản mang theo lượng thức ăn thừa, chất thải của thủy sản nuôi, các loại hóa chất, thuốc thú y thủy sản trong quá trình nuôi thải ra môi trường xung quanh. Và chính nguồn nước ô nhiễm bên ngoài ao nuôi này sẽ là nguồn nước cấp trở lại cho các hệ thống nuôi thủy sản.

Ngoài ra, nguồn nước cung cấp cho các hệ thống nuôi thủy sản còn bị ô nhiễm do nước thải sinh hoạt, nước thải nông nghiệp… Có thể nói, chất lượng nước đầu vào cho các hệ thống nuôi thủy sản hiện nay rất kém.

Tất cả các cơ sở sản xuất tôm giống, cá giống cần có hệ thống bể lắng để loại bỏ các chất hữu cơ lơ lửng kích thước lớn, sau đó, qua hệ thống lọc tinh để loại bỏ các chất hữu cơ lơ lửng kích thước nhỏ, tiếp đến sẽ xử lý bằng ôzôn, tia cực tím và tuần hoàn với sản phẩm EDTA để nguồn cấp đạt tiêu chuẩn chất lượng trước khi cấp cho các trại sản xuất.

Sử dụng công nghệ vi sinh vật để phân hủy các chất hữu cơ hòa tan trong nước và các chất hữu cơ lắng tụ ở đáy ao nhờ các vi khuẩn dị dưỡng. Ôxy hóa NH3 thành NO2- và nhanh chóng chuyển sang NO3- nhờ các vi khuẩn tự dưỡng. Hình thành hệ vi sinh vật có lợi và cạnh tranh với hệ vi sinh vật gây bệnh trong ao nuôi. Cải thiện chất lượng nước và cải thiện đáy ao nuôi.

Bên cạnh đó, người nuôi cần áp dụng một số công nghệ trong xử lý nước và trong quá trình nuôi. Công nghệ lọc sinh học để loại bỏ chất rắn dạng lơ lửng và các khí độc hòa tan trong nước như: Lọc chảy nhỏ giọt (trickling filter), lọc quay (rotating biological contactor), lọc hạt (bead filter), lọc giá thể chuyển động (moving bed biofilm reactor), lọc giá thể chìm (submerged filter), lọc dòng đáy (fluidized bed filter). Áp dụng công nghệ Biofloc nhằm loại bỏ các chất dinh dưỡng dư thừa để nâng cao chất lượng nước thông qua chuyển hóa vào sinh khối vi khuẩn dị dưỡng đồng thời sử dụng biofloc làm thức ăn cho các đối tượng thủy sản.

Ngoài ra, cần chủ động thay đổi phương pháp nuôi, nuôi kết hợp với một số đối tượng thủy sản có khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng dư thừa, các loại hóa chất và khí độc hòa tan trong nước của ao nuôi. Nuôi kết hợp với một số động vật thân mềm hai mảnh vỏ như hàu, vẹm sẽ làm giảm đáng kể hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS), mùn bã hữu cơ, tổng Nitơ (TN), tổng lân (TP), chất diệp lục (Chlorophyll-a), vi khuẩn tổng số trong nước thải từ các ao nuôi tôm, cá thâm canh… Hay nuôi kết hợp với một số loài rong biển có giá trị kinh tế có khả năng làm giảm hàm lượng các chất hữu cơ và khí độc hòa tan trong nước. Nuôi kết hợp với hải sâm hoặc với  một số loài cá ăn thực vật và mùn bã hữu cơ như cá măng, cá đối, cá rô phi sẽ có tác dụng tích cực trong việc trong việc hạn chế lượng chất thải hữu cơ tích tụ trong ao nuôi. tag: oxy đáy

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nang-cao-chat-luong-moi-truong-nuoc-59c9bcb5e49519ef6c8b456c.html

Sử dụng thức ăn tươi trong nuôi trồng thủy sản: Những hệ lụy

Thời gian gần đây, thức ăn tươi phục vụ nuôi trồng thủy sản (NTTS) trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa khan hiếm, giá tăng cao khiến chi phí đầu tư nuôi cá, tôm và một số đối tượng khác tăng theo. Ngoài ra, việc sử dụng thức ăn tươi cũng để lại nhiều hệ lụy, gây ô nhiễm môi trường làm chết thủy sản nuôi.

Sử dụng thức ăn tươi trong nuôi trồng thủy sản: Những hệ lụy

Giá thức ăn tăng cao khiến chi phí đầu tư nuôi trồng thủy sản của người dân tăng lên

Chi phí tăng

Mới đây, khi đến các vùng trọng điểm NTTS trên địa bàn tỉnh như: Cam Ranh, Cam Lâm, Ninh Hòa, Vạn Ninh, Nha Trang, chúng tôi được các chủ bè nuôi cá, tôm hùm chia sẻ, thời gian gần đây, các loại thức ăn tươi khan hiếm, giá tăng cao, riêng giá cá tạp lên đến 12.000 đồng/kg (trước đây cao nhất chỉ 7.000 đồng/kg) khiến chi phí đầu tư đội lên, lợi nhuận sau khi xuất bán thủy sản không cao. tag: sục khí đáy

Ông Lê Văn Minh, người nuôi cá chẽm ở xã Cam Thành Bắc (huyện Cam Lâm) cho biết: “Gia đình tôi nuôi 40.000 con cá chẽm trên 4 đìa nuôi, mỗi ngày cho ăn cả tấn thức ăn tươi. Mới đây, tôi xuất bán 1 đìa, sản lượng 10 tấn, giá bán 63.000 đồng/kg, thu được 630 triệu đồng, trong đó chi phí mua thức ăn từ khi thả giống đến khi thu hoạch đã mất 450 triệu đồng, tiền điện 50 triệu đồng, tiền giống 70 triệu đồng, tính ra cả vụ nuôi tôi chỉ lãi vài chục triệu đồng. Nếu giá thức ăn không tăng cao như hiện nay thì lợi nhuận sẽ cao hơn”.

TP. Cam Ranh hiện nay có gần 30.000 lồng bè, trong đó có 20.000 lồng nuôi tôm hùm, số còn lại là nuôi cá bớp, cá mú… Mỗi ngày, lượng thức ăn tươi phục vụ NTTS tại địa phương này lên đến hàng trăm tấn. Có mặt tại bến thuyền phục vụ NTTS tại lăng Ông Nam Hải (phường Cam Phúc Bắc, TP. Cam Ranh), chúng tôi được bà Nguyễn Thị Bốn, người chuyên cung cấp thức ăn tươi cho các bè nuôi cá ở địa phương cho biết: “Tại khu vực này có 3 vựa bán thức ăn tươi cho các bè nuôi cá, mỗi ngày tiêu thụ khoảng 10 tấn cá tạp các loại. Thời gian gần đây, do các ghe giã cào trong tỉnh khai thác đạt sản lượng thấp nên thức ăn cho thủy sản chủ yếu mua từ Bình Thuận, Ninh Thuận. Chất lượng cá tạp lúc tốt, lúc xấu và giá tăng cao hơn trước đến 30 – 40%. Tuy nhiên, để duy trì nghề nuôi, người dân vẫn chấp nhận. Hiện tại, hàng chục điểm bán thức ăn tươi ven vịnh Cam Ranh đều chung tình trạng này”.

Hiện nay, tuy đã có thức ăn công nghiệp phục vụ cho các đối tượng NTTS nhưng chỉ có người nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng và một số ít hộ nuôi cá sử dụng, còn lại các hộ nuôi cá bớp, cá chim, tôm hùm, ốc hương, cá mú, cá chẽm… vẫn dùng thức ăn tươi là các loại cá tạp, sò, tôm loại nhỏ… Ông Phan Tấn Tý, người nuôi cá bớp ở xã Ninh Ích (thị xã Ninh Hòa) cho biết: “Một số hộ nuôi cá ở vịnh Vân Phong đã chuyển sang sử dụng thức ăn công nghiệp. Tuy loại thức ăn này có nhiều ưu điểm về chất lượng, song chi phí cao hơn khoảng 30%, trong khi giá bán thủy sản không tăng nên nhiều hộ nuôi chọn sử dụng thức ăn tươi”.

Những hệ lụy

Một thực tế hiện nay, khi thức ăn tươi khan hiếm, các loại cá tạp không đảm bảo chất lượng từ các địa phương khác cũng được đưa về để phục vụ NTTS trên địa bàn tỉnh. Điều này đã để lại nhiều nỗi lo cho người nuôi. Một trong những nguyên nhân khiến thủy sản nuôi trên địa bàn tỉnh chết ở nhiều vùng nuôi từ giữa năm 2016 đến nay một phần là do thức ăn không rõ nguồn gốc, không đảm bảo chất lượng.

Một hệ lụy khác, việc sử dụng thức ăn tươi không đảm bảo chất lượng gây ô nhiễm nguồn nước vùng nuôi. Theo thống kê của Chi cục Thủy sản, toàn tỉnh có 9.893ha NTTS, trong đó có 1.200ha nuôi thủy sản nước ngọt, gần 5.000ha nuôi thủy sản nước lợ, nuôi mặt nước ven biển khoảng 3.785ha. Riêng cá bè có khoảng 4.500 lồng, tôm hùm khoảng 25.000 lồng. Với diện tích nuôi lớn như vậy, lượng thức ăn hàng ngày cho thủy sản nuôi toàn tỉnh rất lớn. Trong khi đó, việc người dân không theo dõi kỹ khả năng bắt mồi của đối tượng nuôi, cho thừa thức ăn đã tác động lớn đến môi trường vùng nuôi. Đó là chưa kể thức ăn không đảm bảo chất lượng còn gây ra dịch bệnh khiến thủy sản nuôi bị chết.

Theo ông Nguyễn Ngọc Sơn – Phó Chủ tịch UBND TP. Cam Ranh, hiện nay, nhiều vùng NTTS ven vịnh Cam Ranh đã bị ô nhiễm nặng, lớp bùn tích tụ lâu ngày từ NTTS và một số hoạt động khác có nơi lên đến gần 0,5m. Đó là chưa kể việc người nuôi vứt bừa bãi các túi ni lông đựng thức ăn khiến những thứ này trôi dạt khắp nơi, tấp vào bờ gây ô nhiễm. Từ thực tế trên, bà Trần Thanh Thúy – Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y khuyến cáo, người dân nên chuyển sang sử dụng một phần thức ăn công nghiệp để giảm thiểu ô nhiễm môi trường; đối với thức ăn tươi cần chọn cá tươi, bảo quản đúng cách để đảm bảo chất lượng. Trong quá trình nuôi, cần chú ý theo dõi tình trạng hoạt động, mức độ bắt mồi của đối tượng nuôi để tránh cho thừa thức ăn, gây lãng phí và ô nhiễm môi trường vùng nuôi. tag: oxy đáy

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/su-dung-thuc-an-tuoi-trong-nuoi-trong-thuy-san-nhung-he-luy-59cc66c2e495193f288b456b.html