Monthly Archives: December 2017

Kỹ thuật nuôi tôm kết hợp với cá

Các loài tôm bố mẹ dùng cho các trại giống có thể đưa về từ tự nhiên hoặc được sản xuất ngay tại các trang trại. tag: phần mềm quản lý ao

Kỹ thuật nuôi tôm kết hợp với cá

Các trang trại đều cân nhắc và chọn mật độ thả nuôi các loài phù hợp với mục tiêu cuối cùng là đạt kích cỡ và năng suất (sinh khối) thu hoạch mong muốn.

Các ao nuôi có thể được rải vôi và bón phân để kích thích thực vật phù du phát triển làm nền hình thành chuỗi thức ăn.

Tuy nhiên, việc đưa thức ăn công nghiệp vào ao nuôi ngày càng phổ biến để tăng cường sản xuất nhằm vượt lên năng suất có thể từ tự nhiên.

Thức ăn thường được đưa vào ao một hoặc nhiều lần mỗi ngày. tag: phần mềm quản lý trang trại

Các chất thải từ thức ăn làm cho thực vật phù du nở hoa dày đặc và gây suy giảm chất lượng nước.

Có thể áp dụng thay nước để cải thiện chất lượng nước bằng cách rút bớt chất dinh dưỡng và chất hữu cơ từ các ao nuôi, đồng thời giúp tăng năng suất nuôi trồng.

Sục khí cơ học có thể có hiệu quả hơn so với việc thay nước trong việc tăng năng suất.

Đây cũng là phương pháp nuôi trồng có trách nhiệm bởi vì trong khi thay nước các chất dinh dưỡng và chất hữu cơ được lấy ra từ các ao nuôi có thể gây ô nhiễm ở các vùng khác khi tiếp nhận nguồn nước này.

Có thể sử dụng các chất tăng cường chất lượng nước khác nhau như là natri clorua (sodium chloride), natri nitrat (sodium nitrate), đồng sunfat, zeolite​, men vi sinh và các chế phẩm enzym.

Các ao thông thường được rút cạn nước để thu hoạch tôm / cá. Đáy ao thường được phơi khô giữa các vụ, nền đáy cũng có thể được rải vôi và cày / ủi lại. tag: quản lý trang trại trực tuyến

Một chuỗi thức ăn trong ao tôm

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/ky-thuat-nuoi-tom-ket-hop-voi-ca-36663.html

Công nghệ sinh học cải thiện tôm nuôi

Một số hóa chất này có tác động tiêu cực đến môi trường, tôm nuôi và người tiêu dùng. tag: phần mềm quản lý ao

Công nghệ sinh học cải thiện tôm nuôi

Ví dụ, dư lượng thuốc kháng sinh trong tôm có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe con người khi ăn phải tôm này.

Vì vậy, cách tốt hơn là thay thế các hóa chất bằng phương pháp quản lý ao nuôi thích hợp, hoặc các phương cách tự nhiên, hoặc sử dụng các sản phẩm sinh học ( men vi sinh ).

Sử dụng ao lắng, nuôi cá tự nhiên hoặc các loài hai mảnh vỏ và rong biển để cung cấp nước nguyên sơ cho các ao nuôi tôm thì chất lượng nước sẽ tốt hơn là xử lý bằng hóa chất.

Ngoài ra, xử lý hóa chất còn tiêu diệt các loài vi khuẩn tự nhiên có lợi cho tôm. Probiotics(chế phẩm sinh học, men vi sinhmen tiêu hóa) trộn vào thức ăn nuôi tôm giúp bảo vệ tôm khỏi một số bệnh viêm nhiễm do vi khuẩn và virút gây ra, nhờ thế giảm sử dụng kháng sinh. tag: phần mềm quản lý trang trại

Sử dụng vắcxin diệt khuẩn hoặc virút giúp bảo vệ tôm nuôi chống lại các tác nhân gây bệnh cụ thể.

Các chất nâng cao miễn dịch như beta glucans, peptidoglycans, lipopolysaccharides tăng cường bảo vệ tôm nuôi bằng cách kích thích hệ miễn dịch không đặc hiệu của tôm.

Tags: nuoi tom, con tom, thuy san, nuoi trong thuy san, ky thuat nuoi tom, ao nuoi tom

Probiotics (men vi sinhmen tiêu hóa), vắcxin và các chất tăng cường miễn dịch là các sản phẩm sinh học, mặc dù hiệu quả của các sản phẩm sinh học còn có phần hạn chế hiện nay, nhưng sự lựa chọn khác là kháng sinh cũng không cung cấp một kết quả tốt hơn.

Những nghiên cứu để cải thiện hiệu quả của các loại sản phẩm sinh học này nên được khuyến khích vì nó đem lại quy trình sản xuất tốt và quan trọng hơn cả là an toàn khi ăn tôm nuôi. tag: quản lý trang trại trực tuyến

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cong-nghe-sinh-hoc-cai-thien-tom-nuoi-36664.html

Các loại bệnh do dinh dưỡng

Tôm cần 6 loại chất dinh dưỡng và khoảng 30 chất dinh dưỡng vi lượng. tag: phần mềm quản lý ao

Các loại bệnh do dinh dưỡng

Chất dinh dưỡng vi lượng là các axit amin riêng biệt, vitamin, khoáng chất và các axit béo. Mỗi một chất trong số các chất này rất cần thiết cho quá trình tăng trưởng và phát triển của tôm.

Có trường hợp chỉ ở một thời kỳ rất ngắn trong vụ nuôi mà thiếu một trong bất kỳ chất dinh dưỡng nào thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tăng trưởng và phát triển của tôm.

Ở mỗi giai đoạn nuôi cần phải bổ sung đúng lúc một và tất cả các chất dinh dưỡng hoặc chất dinh dưỡng vi lượng.

Trong một vụ nuôi dài luôn cần bổ sung dinh dưỡng vì sự thiếu hụt dinh dưỡng có thể xảy ra bất kỳ lúc nào trong suốt giai đoạn nuôi tăng trưởng.

Thường các nhà sản xuất thức ăn công nghiệp quan tâm nhiều đến lợi nhuận tối đa với chi phí tối thiểu, không chú trọng đầy đủ để đảm bảo thức ăn có tất cả các chất dinh dưỡng và chất dinh dưỡng vi lượng.

Do đó, ở một ao nuôi tôm thương phẩm trong điều kiện nuôi thâm canh ở mật độ cao thì khả năng xảy ra thiếu hụt dinh dưỡng là rất cao.

Thức ăn kém chất lượng, không đủ dinh dưỡng sẽ làm mất đi bề ngoài khỏe mạnh và đầy đặn bình thường của tôm.

Vỏ trở nên mỏng và mềm.

Tôm chậm lột xác và kết quả là toàn bộ quá trình sinh trưởng và phát triển đều chậm lại. Bên cạnh đó sẽ xuất hiện một số loại bệnh cụ thể nào đó liên quan đến dinh dưỡng kém. tag: phần mềm quản lý trang trại

Thiếu hụt protein có liên quan trực tiếp đến sự phát triển của cơ và thịt tôm, protein cần thiết cho tôm được cấu thành từ 10 loại axít amin mà tôm không có khả năng tổng hợp nên cần phải cung cấp thông qua thức ăn.

Tôm đòi hỏi tỷ lệ protein rất cao (35 – 45 %).

Tôm cần phospholipid giàu phosphatidylcholine và phosphatidylinositol cho quá trình phát triển bình thường, lột xác, biến đổi và thành thục.

Do đó sự đẻ trứng, tỷ lệ nở của trứng và tỉ lệ sống của ấu trùng cũng đều bị ảnh hưởng.

Bệnh vỏ mềm thường thấy ở tôm ấu niên và trưởng thành.

Tôm bị nhiễm bệnh sẽ có vỏ ngoài mềm và mỏng màu hơi xanh. Tôm thể hiện xu hướng ăn thịt đồng loại nhiều hơn.

Các chất dinh dưỡng vi lượng liên quan trực tiếp đến bệnh này là canxi, kali và phốt pho.

Khoảng 20% năng lượng hấp thụ được sử dụng cho việc hình thành vỏ ngoài.

Do đó tôm cần thức ăn năng lượng rất cao và nếu năng lượng ít thì vỏ ngoài sẽ trở nên mềm yếu.

Vitamin A cần thiết cho sức khỏe và ích lợi cho các biểu mô trong và ngoài. Vitamin B có nhiều dạng và đóng vai trò chính trong một hoặc các hoạt động trao đổi chất khác nhau.

Vitamin C cần thiết cho sự hình thành chitin. Thiếu vitamin C thì sẽ làm giảm sự hấp thụ thức ăn, làm cho hệ số chuyển đổi thức ăn kém và tỷ lệ chết cao sau khi lột xác.

Vitamin D có liên quan đến chuyển hóa canxi và vitamin E có tác dụng làm chất chống oxy hóa trong thức ăn, ngoài ra còn có vai trò quan trọng trong chu kỳ sinh sản. tag: quản lý trang trại trực tuyến

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cac-loai-benh-do-dinh-duong-36665.html

Nghiên cứu tiếp tục của Việt Nam về Vibrio có thể thực khuẩn (Phage) lan truyền EMS/AHPNS

Hội chứng tôm chết sớm hay còn gọi là hội chứng hoại tử gan tuỵ cấp tính đã ảnh hưởng nặng nề đến các trang trại nuôi tôm ở Việt Nam. tag: phần mềm quản lý ao

Nghiên cứu tiếp tục của Việt Nam về Vibrio có thể thực khuẩn (Phage) lan truyền EMS/AHPNS

Năm 2012, các mẫu thu được từ 92 trang trại bị nhiễm AHPNS ở Đồng bằng sông Cửu Long đã tìm thấy một nhóm mẫu phân lập Vibrio, chủ yếu là V. parahaemolyticus.

Ba mẫu phân lập được tìm thấy có thể thực khuẩn (phage). Thực nghiệm cảm nhiễm tôm thẻ chân trắng cho thấy dòng vi khuẩn chứa phage có khả năng gây bệnh AHPNS ở tôm không bị nhiễm.

Hàng triệu hecta mặt nước trong nội địa, bờ biển dài 3.260 km và vùng kinh tế lớn duy nhất đem lại cho Việt Nam một tiềm năng to lớn về phát triển nuôi trồng thủy và hải sản.

Các lĩnh vực thủy hải sản của quốc gia xếp đầu tiên là nuôi cá da trơn, thứ ba là tôm và nuôi trồng thủy sản, thứ bảy là tổng sản lượng hải sản.

Chiếm hơn 90% diện tích nuôi trồng của Việt Nam và 70% sản lượng cả nước là Đồng bằng sông Cửu Long.

Tôm sú, Penaeus monodon chiếm khoảng 81% sản lượng, còn lại tôm thẻ Litopenaeus vannamei là 19%.

AHPNS

Bệnh dịch gây cản trở nghiêm trọng đến ngành nuôi tôm ở Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là hội chứng tôm chết sớm hay còn gọi là hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (AHPNS), đã xuất hiện ở tôm nuôi tại các vùng ven biển Việt Nam năm 2010. Năm 2011 và 2012, AHPNS tiếp tục gây tỉ lệ chết trầm trọng khắp đồng bằng và đã xuất hiện ở các trang trại tôm ở một số tỉnh ven biển miền bắc.

Bệnh này đã được báo cáo xảy ra suốt năm, nặng nề nhất là từ tháng 4 đến 7. Bệnh đã gây ảnh hưởng đến các trang trại nuôi tôm sú, hoặc tôm thẻ, chủ yếu ở các vùng có hệ thống nuôi bán công nghiệp và công nghiệp. Phạm vi ảnh hưởng của AHPNS mạnh hơn ở các trang trại có độ mặn cao và trong suốt các mùa khô có nhiệt độ cao.

Thu thập mẫu

Trong một nghiên cứu do Tổng cục Thủy sản, Bộ NNPTNT và Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc, các tác giả đã thu các mẫu từ 92 ao bị nhiễm bệnh ở các trang trại nuôi tôm tại các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang ở Đồng bằng sông Cửu Long từ tháng 3 đến 9 năm 2012. Tuy nhiên, chỉ 56 ao được ghi nhận là bị ảnh hưởng bởi AHPNS.

Các dấu hiệu bệnh khác nhau được ghi nhận ở cấp độ ao. Tôm hấp hối ngừng ăn và tấp mé bờ. Tôm chết được tìm thấy ở đáy ao nuôi từ ngày 10 đến 45 sau khi thả. Tôm bị bệnh biểu hiện các dấu hiệu lâm sàng như teo gan tụy và có màu trắng/xanh xám cùng với đường ruột không liên tục hoặc đường ruột rỗng. Quan sát tỉ lệ chết lên đến 60% từ ngày thứ 3 đến 7 sau khi xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng. tag: phần mềm quản lý trang trại

Các kết quả

Phân tích mô học các mẫu tôm hấp hối cho thấy biểu hiện bệnh AHPNS điển hình là rối loạn chức năng các tế bào gan tụy, biểu mô ống bong tróc, viêm nhiễm nặng tế bào máu và một số tế bào ống thường bị vibriosis.

Nhuộm gram các mẫu xét nghiệm kính phết mô gan tụy từ tôm nhiễm bệnh cho thấy sự hiện diện của vi khuẩn Gram âm, hình roi. Tổng số 42 phân lập vi khuẩn Vibrio tìm được từ các mẫu mô gan tụy ở tôm có biểu hiện điển hình bệnh AHPNS và được nhận dạng ở mức các loài.

Các vi khuẩn này là Gram âm, hình roi ngắn và dương tính với oxidase và catalase, quá trình oxy hóa và lên men của glucose. Chúng mọc trên môi trường thạch thiosulfate citrate bile salt agar (TCBS)ở các quần thể lồi, tròn và màu xanh có đường kính từ 2 đến 3 mm.

Trong số này, nhận dạng được một phân lập là V. alginolyticus, một là V. vulnificus và 39 phân lập là V. parahaemolyticus được xác nhận bởi chuỗi 16S rRNA. Mọi phân lập V. parahaemolyticus đều cho thấy hiện tượng dung huyết sau hai ngày ủ bệnh trên các đĩa thạch huyết.

Ba phân lập được tìm thấy có phage. Các mẫu nước cũng được thu về từ các ao nhiễm bệnh. Các kiểm tra thông số môi trường cho thấy chất lượng nước không phải là nguyên nhân chính đối với các vấn đề sức khỏe tôm. Hàm lượng ammonia, nitrite và sulfide nằm trong giới hạn chấp nhận được đối với nuôi tôm ở mọi ao được kiểm tra.

Dư lượng thuốc trừ sâu như cypermethrin và deltamethrin đã được phát hiện ở cả các ao nhiễm và không nhiễm bệnh ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, nghiên cứu thực nghiệm đã đánh giá các tác động của deltamethrin cho thấy không có dấu hiệu của bệnh AHPNS điển hình ở các mô gan tụy của tôm phơi nhiễm.

Các tác động cảm nhiễm

Cảm nhiễm bằng cách ngâm tôm L. vannamei postlarvae (P.L.15) khỏe mạnh trong dịch gan tụy lọc qua màng cỡ 0.22-μ chiết xuất từ tôm bị AHPNS ở mức pha loãng 10 lần đã cho các kết quả âm tính với mô bệnh học AHPNS sau 7, 14 và 21 ngày ngâm.

Tương tự, các thực nghiệm cảm nhiễm liên quan đến tiêm vào cơ tôm thẻ ấu niên L. vannamei trọng lượng 1-g với dịch cả đầu tôm hoặc gan tụy lọc qua màng cỡ 0.22- và 0.45-μ chiết xuất từ tôm bị AHPNS đã cho kết quả không có tử vong hoặc phân tích mô bệnh học không có AHPNS 14 ngày sau khi tiêm.

Cảm nhiễm thực nghiệm tôm thẻ trọng lượng 1,5-g ở các định lượng khuẩn 10^4, 10^5 and 10^6 CFU/g đã cho thấy một dòng V. parahaemolyticus nhiễm phage có khả năng gây bệnh AHPNS tương tự như đã nhìn thấy ở tôm thu từ các ao trong các nhóm bị cảm nhiễm với định lượng khuẩn 10^5 CFU/g trong 9 ngày và 10^6 CFU/g trong 6 ngày sau khi bị cảm nhiễm.

Hiện nay, các tác giả đang thực hiện cho ăn thí nghiệm và tạo môi trường chung sống thử nghiệm sử dụng các mẫu tôm bị nhiễm AHPNS.

Các cơ quan gan tụy của tôm nhiễm bệnh AHPNS có màu trắng hoặc xanh xám, cùng với đường ruột không liên tục (trái) hoặc đường ruột rỗng.

Nhuộm gram một mẫu xét nghiệm kính phết mô gan tụy từ một cá thể tôm nhiễm bệnh (trái) cho thấy sự hiện diện của vi khuẩn Gram âm, hình roi.

Hình bên phải cho thấy các tế bào gan tụy, tế bào hình ống bong tróc và viêm nhiễm tế bào máu. tag:  quản lý trang trại trực tuyến

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nghien-cuu-tiep-tuc-cua-viet-nam-ve-vibrio-co-the-thuc-khuan-phage-lan-truyen-ems-ahpns-36666.html

Phương pháp phòng và trị bệnh do vi khuẩn Vibrio sp gây bệnh gan tụy, EMS, phân trắng trên tôm và nguồn nước ao nuôi

A.Cách nhận biết Vibrio sp

Phương pháp phòng và trị bệnh do vi khuẩn Vibrio sp gây bệnh gan tụy, EMS, phân trắng trên tôm và nguồn nước ao nuôi

 

Môi trường đặt trưng 

STT 

Tên chủng 

Gây bệnh 

Đặt điểm nhận biết 

V. cholera, V.vulnificus 

Phân trắng 

Khuẩn lạc màu vàng, kích thước lớn 

V. parahaemolyticus 

Hoại tử gan tụy (EMS/AHPNS) 

Khuẩn lạc màu tím 

V. alginolyticus 

Bệnh đỏ dọc thân, phân trắng 

Khuẩn lạc nhầy màu vàng, kích thước lớn 

V. harveyi,

V.fischeri 

Bệnh phát sáng 

Xám xanh khuẩn lạc xanh-màu xanh lá cây mà hiện tượng phát quang trong bóng tối 

B.Phương pháp và Phòng trị

GIẢI PHÁP 1: DIỆT KHUẨN VIBRIO SP GÂY BỆNH TRONG AO TÔM

Khi thấy trong ao chứa mật độ vi khuẩn Vibrio sp (Vibrio parahaemolyticus, V. vulnificus, V. cholera, V. alginolyticus) cao, tôm bị bệnh gan tụy, phân trắng thì tiến hành diệt khuẩn sau: 

Cách 1: Dùng sản phẩm GUARSA

·        GUARSA liều 0,6 – 1 kg/1000 m3 nước, ngày 1 lần, lúc 8- 9 giờ sáng. Có thể lặp lại lần 2 sau 24 giờ dùng nếu chưa sạch khuẩn. Sau 48 giờ cấy lại men vi sinh Bacpower hay Pondozy No2. tag: phần mềm quản lý ao

Cách 2: Dùng sản phẩm DOHA or WUNMID

·        DOHA liều 1 lít/4000 m3 nước, hoặc WUNMID liều 1 kg/3000 m3 nước, ngày 1 lần, lúc 5- 6 giờ chiều. Có thể lặp lại lần 2 sau 24 giờ dùng nếu chưa sạch khuẩn. Sau 48 giờ cấy lại men vi sinh Bacpower hay Pondozy No2

GIẢI PHÁP 2: KIỂM SOÁT VI KHUẨN VIBRIO SP GÂY BỆNH TRONG RUỘT VÀ GAN TÔM.

Cách 1: Kiểm soát bằng sinh học; sản phẩm SENCID, MUNOMAN (nếu tôm bị nhiểm bệnh tỷ lệ

·        Trôn cho ăn SENCID: liều20g/kg thức ăn, ngày 2 lần, cữ sáng và chiều. tag: phần mềm quản lý trang trại

·        Trôn cho ăn MUNOMAN:  liều 10g/kg thức ăn, ngày 2 lần, cữ trưa và tối.

Cách 2: Kiểm soát bằng kháng sinh; sản phẩm HILORO và TRASOL LA

·        Trộn cho ăn HILORO:  liều 5 ml/kg thức ăn, ngày 1 lần, cữ sáng, liên tục 5 ngày.

·        Trộn cho ăn TRASOL LA:  liều 10 ml/kg thức ăn, ngày 1 lần, cữ tối, liên tục 5 ngày.

Chú ý: – Nên kết hợp cả 2 giải pháp trên để tăng hiệu quả phòng và trị. tag: quản lý trang trại trực tuyến

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/phuong-phap-phong-va-tri-benh-do-vi-khuan-vibrio-sp-gay-benh-gan-tuy-ems-phan-trang-tren-tom-va-nguon-nuoc-ao-nuoi-36667.html

Suy luận về AHPN dựa trên động thái của vi khuẩn Vibrio

Vibrio parahaemolyticus có cả các dòng độc tính và lành tính – một dòng trong số này gây ra hoại tử gan tụy cấp tính (AHPN). Dòng vi khuẩn này chiếm chỗ trong dạ dày tôm bằng cách hình thành một màng sinh học bảo vệ chúng khỏi tác dụng của thuốc kháng sinh và các phương pháp điều trị tiềm năng khác. tag: phần mềm quản lý ao

Suy luận về AHPN dựa trên động thái của vi khuẩn Vibrio

Giống như V. cholera gây bệnh tả, V. parahaemolyticus chịu đựng được một khoảng độ mặn, pH và nhiệt độ. Cả hai loài này dễ dàng theo cùng với phiêu sinh vật biển và có thể lây lan bởi các dòng hải lưu.

Các loài vi khuẩn Vibrio cũng có thể lây lan do tôm bố mẹ và tôm giống. Tác nhân gây bệnh AHPN chiếm cứ nhiều chỗ thích hợp.

Màng sinh học

Màng sinh học tìm thấy ở khắp mọi nơi. Màng sinh học có lẽ phổ biến nhất với con người là lý do tại sao chúng ta phải đánh răng. Chúng được nói đến ở vô số trạng thái bệnh và là một cơ chế hiệu quả cho vi khuẩn lây lan. Một màng sinh học là một tập hợp các sinh vật bám dính vào một bề mặt – như mùn bã ở đáy ao tôm hoặc ở trường hợp bệnh AHPN là trong dạ dày của tôm.

Màng sinh học bảo vệ vi khuẩn trong phạm vi đó khỏi tác dụng của thuốc kháng sinh và các loài vi khuẩn khác có thể sẽ tìm cách chiếm chỗ thích hợp cho chúng.

Trong sự hình thành màng sinh học, vi khuẩn đầu tiên bám dính vào lớp kitin dạ dày và bề mặt dạ dày cơ của tôm. Vi khuẩn sau đó tạo thành lớp dính exopolymers “dán” vi khuẩn vào bề mặt. tag: phần mềm quản lý trang trại

Khi màng sinh học tiếp theo đó hoàn thiện và tạo khuẩn lạc thì exopolysaccharides bảo vệ vi khuẩn chống lại kháng sinh, thuốc khử trùng, chiết xuất thảo dược và các phương pháp điều trị khác trong khi vẫn cho phép hoạt động tế bào trao đổi chất bình thường.

Ở trạng thái cuối cùng thì màng sinh học bắt đầu tách ra, các tế bào của nó phân tán trong môi trường và khi ấy màng sinh học mới phát triển.

Kiểm soát AHPN

Nỗ lực kiểm soát AHPN đã bắt đầu từ lâu trước khi bệnh được nhận diện rõ. Có lẽ AHPN được phát hiện lần đầu tiên ở Trung Quốc bốn năm trước hoặc lâu hơn thế và đã lan sang một số quốc gia khác. Theo ý kiến ​​của tác giả, dòng vi khuẩn Vibrio này sẽ có khả năng lây lan vào những môi trường cho phép nó lấn át được các loài vi khuẩn khác đang hiện diện.

Do tính chất phức tạp trong phân loại Vibrio, một số sự việc làm cho AHPN trở thành một vấn đề không đơn giản để giải quyết. Sự phát sinh bệnh bất thường trên tôm xét trên khía cạnh làm thế nào mà nó gây ra bệnh.

Tương tự nữa với bệnh tả rõ ràng là nó xuất hiện diễn tiến bệnh có căn cứ độc tố mà ở đó vi khuẩn xâm chiếm một bề mặt hạn chế và độc tố gây tổn thương. Đa phần các loài gây bệnh Vibrio khác xâm chiếm động vật và thông qua nhiều độc tố khác nhau, các thành phần cấu trúc vách tế bào của chúng, lipopolysaccharides, áp đảo khả năng tự phòng vệ của động vật, tiếp theo đó làm cho động vật suy yếu dần và chết.

Dòng V. parahaemolyticus gây ra AHPN không xuất hiện bằng cách xâm chiếm theo đường tìm kiếm vào hemolymph (một chất lỏng trong hệ tuần hoàn của động vật chân đốt) của động vật qua vết thương hoặc các cơ chế khác. Điều này giải thích lý do tại sao thuốc kháng sinh không chặn được lây nhiễm AHPN.

Nếu kháng sinh không có khả năng tiếp cận với tác nhân gây bệnh ở cấp độ đủ để tác động đến nó, thì sau đó kháng sinh sẽ không có tác dụng.

Từ lâu sự lạm dụng kháng sinh trong nuôi tôm đã và đang là một mối quan tâm nhiều năm – mặc dù cũng có bệnh thích hợp sử dụng kháng sinh, thì đây là một ví dụ về việc bất kỳ loại kháng sinh nào sử dụng đều không thích hợp.

Hơn nữa, nếu tác nhân gây bệnh ở một màng sinh học trong dạ dày thì màng này có thể bảo vệ nó khỏi tác động của nhiều loại hợp chất khác mà về mặt lý thuyết có thể tiêu diệt nó. Điều này sẽ đặt ra một thách thức quan trọng đối với những nỗ lực phát triển các phương thức điều trị. tag: quản lý trang trại trực tuyến

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/suy-luan-ve-ahpn-dua-tren-dong-thai-cua-vi-khuan-vibrio-36677.html

Độc tính của amoniac làm suy giảm sức khỏe và mức tăng trưởng của động vật

Tóm tắt: Nitơ amoniac xuất hiện trong các hệ thống nuôi trồng thủy sản là chất thải của quá trình chuyển hóa protein bởi động vật thủy sản và quá trình suy thoái các chất hữu cơ, hoặc trong phân bón nitơ. tag: phần mềm quản lý ao

Tiếp xúc với chất khí này có thể làm giảm sức tăng trưởng và tăng nguy cơ mắc bệnh ở các loài thủy sản.

Nồng độ nitơ amoniac thay đổi theo thời gian trong ngày, độ sâu của nước và nhiệt độ, tăng lên khi sinh khối và thức ăn tăng. Cách quản lý tốt nhất là thận trọng trong mật độ thả nuôi và tỷ lệ cho ăn nhằm giảm thiểu nitơ amoniac và tránh thực vật phù du phát triển quá mức gây ra pH cao.

Tiến sĩ Claude E. Boyd

Khoa Thủy sản và liên minh nuôi trồng thủy sản, Đại học Auburn – Auburn, Alabama 36849 USA

Nồng độ NH3-N là 0,45 mg/L làm giảm sức tăng trưởng của năm loài tôm penaeid khoảng 50%.

Nitơ amoniac bao gồm amoniac không ion hóa (NH3) và ion amonium (NH4+) xuất hiện trong nước của các hệ thống sản xuất nuôi trồng thủy sản là chất thải của quá trình chuyển hóa protein bởi động vật thủy sản và quá trình suy thoái các chất hữu cơ bởi vi khuẩn và các vi sinh vật khác. Nitơ ammoniac cũng có trong các ao ở phân đạm như amonium sulfat, amonium phốt phát và urê thủy phân sinh ra nitơ amoniac.

Tỷ lệ nitơ ammoniac tồn tại ở dạng NH3 tăng theo nhiệt độ nước và đặc biệt là pH tăng (Bảng 1). Độ mặn làm giảm tỷ lệ NH3 khi ở một nhiệt độ và pH nhất định, nhưng hiệu quả không cao. Ví dụ, ở pH 8 và 25°C, phần nitơ ammoniac không ion hóa (NH3-N) trong nitơ amoniac ở các độ mặn khác nhau như sau: nước ngọt, 4,90 %; độ mặn 5 ppt, 4,93 %; 10 ppt, 4,78 %; 15 ppt, 4,63%; 20 ppt, 4,48%; 25 ppt, 4,34 %; 30 ppt, 4,20 %; 35 ppt, 4,07 %.

Bảng 1. Phân số thập phân của nitơ amoniac tồn tại ở dạng ammoniac không ion hóa ở các giá trị pH và nhiệt độ nước khác nhau.

Nhiệt độ (°C)

pH

16

18

20

22

24

26

28

30

32

7.2

7.6

8.0

8.4

8.8

9.2

0.004

0.011

0.028

0.069

0.157

0.319

0.005

0.013

0.033

0.079

0.178

0.352

0.006

0.015

0.038

0.090

0.200

0.386

0.007

0.017

0.043

0.103

0.223

0.420

0.008

0.020

0.049

0.117

0.248

0.454

0.009

0.023

0.057

0.132

0.276

0.489

0.011

0.027

0.065

0.149

0.306

0.526

0.012

0.031

0.075

0.169

0.339

0.563

0.015

0.036

0.087

0.194

0.377

0.603

Đa phần chất thải nitơ ở động vật thủy sinh được vận chuyển trong máu đến mang, ở đó nó khuếch tán vào trong nước dưới dạng NH3. Khi nồng độ NH3 thấp trong nước xung quanh thì có độ chênh lệch nồng độ cao tạo điều kiện mất đi amoniac từ máu động vật vào trong nước.

Khi NH3 tăng trong nước làm giảm đi độ chênh lệch, dẫn đến nồng độ NH3 trong máu cao hơn và đưa đến hậu quả sinh lý bất lợi mà có thể gây chết nếu nồng độ NH3 vượt quá mức.

Độc tính của nitơ amoniac

Độc tính của nitơ ammoniac đối với động vật thủy sinh gần như hoàn toàn là do NH3, vì NH4+ tương đối không độc. Như vậy, độc tính của NH3 phụ thuộc nhiều vào pH và nhiều khả năng trong nước khi pH trên 8. Tất nhiên trong ao nuôi, pH nước thường dao động hàng ngày có các giá trị thấp nhất vào những giờ sáng sớm và các giá trị cao nhất vào buổi chiều.

Ở nước độ kiềm thấp với độ đệm yếu có mức thực vật phù du nở hoa dày và ở trong nước độ kiềm cao thì pH có thể cao suốt cả ngày.

Đã có rất nhiều nghiên cứu về độc tính amoniac đối với các loài thủy sản nuôi ở điều kiện có kiểm soát trong phòng thí nghiệm.

Các số liệu về độc tính được báo cáo phổ biến là nồng độ amoniac (NH3-N) gây chết 50% sinh vật thí nghiệm (LC50). Thời gian thí nghiệm có khác nhau, nhưng nhiều thí nghiệm trong 96 giờ.

LC50 96 giờ điển hình được tìm thấy trong tài liệu trình bày ở Bảng 2 đối với một số loài thủy sản.

LC50 với NH3 điển hình thấp hơn 1,0 mg/L đối với các loài nước lạnh và 1,0 – 3,0 mg/L đối với các loài nước ấm.

Bảng 2. Ví dụ thí nghiệm LC50 96 giờ của NH3-N trên các loài thủy sản phổ biến.

Loài

96-giờ LC50

Nước ngọt

Cá da trơnCá rô phi

Cá hồi vân

Cá hồi Cutthroat trout

Cá Fathead minnows

Tôm nước ngọt

0,74-3,10

2,88

0,32-0,93

0,50-0,80

0,20-3,4

2,00-2,50

Nước biển

Cá vược sọcCá hồi biển đốm

Tôm trắng miền Nam

Tôm thẻ chân trắng

Tôm sú

Tôm xanh oliu

0,64-1,10

1,72

0,69-1,20

1,20-2,95

1,04-1,69

1,39

Không có sự khác biệt nhiều trong phạm vi LC50 96 giờ đối với các loài nước ngọt và nước biển. Một số sự khác nhau được báo cáo về LC50 là do sự khác biệt loài có nhạy cảm với amoniac. Tuy nhiên, phần lớn sự khác nhau là do các điều kiện khác nhau trong các thí nghiệm độc tính – đặc biệt là nhiệt độ nước, pH và độ mặn.

Một nghiên cứu trên cá hồi vân đã báo cáo LC50 là 0,32-0,66 mg/L ở nhiệt độ 10 – 13 °C, nhưng ở 16 – 19 °C thì LC50 là 0,86 – 0,93 mg/L đã cho thấy NH3 độc hơn khi ở nhiệt độ thấp hơn. Điều này có hơi bất thường, bởi vì LC50 của nhiều loại độc tố giảm khi nhiệt độ nước tăng, cho thấy độc tính cao hơn trong nước ấm.

pH không chỉ quan trọng trong việc xác định tỷ lệ phần trăm của nitơ amoniac ở dạng NH3 mà còn ảnh hưởng đến độc tính của NH3. Trong một nghiên cứu về cá da trơn, LC50 ở pH 6,0 là 0,74 mg/L, nhưng ở pH 8,8 là 1,91 mg/L. Trong cá hồi vân, LC50 tăng từ 0,13 mg/L ở pH 6,5 đến 0,66 mg/L ở pH 8,9. Mặc dù tỷ lệ NH3 thấp hơn ở pH thấp hơn nhưng NH3 độc hơn ở pH thấp hơn.

Tăng độ mặn làm giảm độc tính NH3. Ở tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương, LC50 tăng từ 1,2 mg/L ở độ mặn 15 ppt lên 1,6 mg/L ở độ mặn 35 ppt. Các kết quả tương tự đã được báo cáo ở các loài tôm và cá khác.

Ảnh hưởng của nồng độ oxy hòa tan đến độc tính NH3 không rõ ràng. Một nghiên cứu đã không tìm thấy tác động nào, nhưng một nghiên cứu khác cho thấy NH3 độc hơn với tôm sú khi nồng độ oxy hòa tan là 2,3 mg/L so với 5,7 mg/L.

Tác động dưới mức gây chết

Trong nuôi trồng thủy sản, các nhà sản xuất thường quan tâm nhiều hơn đến các tác động của một chất độc dưới mức gây chết hơn là tác dụng gây chết 50% (LC50). Một số nghiên cứu đã cho thấy tiếp xúc thường xuyên với NH3 sinh ra những thay đổi sinh lý, gây tổn thương mang, giảm sức tăng trưởng và dễ nhiễm bệnh hơn.

Một nghiên cứu với cá da trơn cho thấy mức tăng trưởng đã giảm thẳng trong khoảng nồng độ NH3-N là 0,048 – 0,989 mg/L. tag: phần mềm quản lý trang trại

Mức tăng trưởng giảm 50% khi ở 0,517 mg/L và không tăng trưởng khi ở nồng độ cao nhất. Mức tăng trưởng cá rô phi cũng cho thấy giảm dần khi nồng độ NH3-N trên 0,068 mg/L.

Trong các nghiên cứu, mức tăng trưởng của cá rô phi giảm dần khi nồng độ NH3-N trên 0,068 mg/L.

Nồng độ NH3-N là 0,45 mg/L làm giảm sức tăng trưởng của mỗi năm loài tôm penaeid khoảng 50%. Cá hồi vân tiếp xúc liên tục với nồng độ NH3-N lên đến 0,073 mg/L không cho thấy giảm tăng trưởng, nhưng các tổn thương mô bệnh học đã được ghi nhận ở mức 0,04 mg/L  và gia tăng nhiễm protozoa khi trên 0,02 mg/L.

Hầu hết các nghiên cứu độc tính đã được thực hiện ở nồng độ NH3-N tương đối ổn định.

Trong các hệ thống nuôi và đặc biệt trong các ao, nồng độ NH3-N thay đổi theo thời gian trong ngày và độ sâu.

Ví dụ, trong một ao nước ngọt, pH có thể là 7,4 vào sáng sớm, khi nhiệt độ nước là 26 °C và pH là 8,8 vào buổi chiều, khi nhiệt độ nước là 28 °C. Ở nồng độ nitơ amoniac là 1,0 mg/L , nồng độ NH3-N vào buổi sáng sẽ là 0,015 mg/L, nhưng vào buổi chiều sẽ là 0,306 mg / L – cao hơn 20 lần.

Tuy nhiên, biến động hàng ngày của NH3-N lên đến 0,37 mg/L xảy ra trong ao không gây ra mức suy giảm tăng trưởng có thể đo được trên cá rô phi. Các tác giả của nghiên cứu đó đã kết luận rằng tiếp xúc với nồng độ amoniac dưới mức gây chết có thể có tác động rất ít đến sức tăng trưởng của cá.

Tôm / cá sớm tiếp xúc với nồng độ NH3 dưới mức gây chết ít bị ảnh hưởng bởi nồng độ nitơ NH3 cao so với tôm / cá chưa tiếp xúc trước đó. Nồng độ nitơ amoniac có xu hướng tăng theo thời gian trong các hệ thống nuôi khi sinh khối và thức ăn đầu vào tăng. Điều này có thể giúp cho các loài nuôi thích nghi với nồng độ nitơ amoniac cao hơn.

Nồng độ an toàn

Nồng độ an toàn khi tiếp xúc lâu dài với NH3-N và nhiều độc tố phổ biến khác thường được ước tính bằng cách nhân 0,1 hoặc 0,05 lần với 96 giờ LC50. Lấy 0,05 làm hệ số thì nồng độ NH3-N an toàn sẽ nằm trong khoảng 0,015 – 0,045 mg/L đối với các loài nước lạnh và 0,050 – 0,150 mg/L với các loài nước ấm.

Do sự khác nhau nhiều về nồng độ NH3-N, pH và nhiệt độ nước theo thời gian, tuy nhiên, việc tính toán này nên được cân nhắc làm hướng dẫn chung hơn là các giá trị tuyệt đối. Thường xuyên lập lại theo dõi NH3-N trong các hệ thống nuôi – đặc biệt trong các ao – do đó là không cần thiết.

Ngoài ra, không có phương pháp chắc chắn cho việc giảm nitơ amoniac khi thiếu áp dụng một tỷ lệ thay nước cao để chuyển ammoniac ra khỏi ao nuôi hoặc giảm thức ăn đầu vào và năng suất sau đó. Cách làm phổ biến khi đưa chủng vi khuẩn nitrat hóa hoặc sử dụng zeolite có thể có giá trị hạn chế, vì vậy có lẽ phương pháp tốt nhất để quản lý nitơ amoniac là thận trọng trong mật độ thả nuôi và giảm tỉ lệ cho ăn nhằm giảm thiểu NH3-N đầu vào và tránh thực vật phù du nở hoa quá mức gây ra pH cao.

Nên cung cấp sục khí đầy đủ để tránh mức oxy hòa tan thấp và gia tăng quá trình oxy hóa nitơ amoniac thành nitrat nhờ vi khuẩn nitrat hóa. Khuấy động bề mặt nước bằng cách sục khí cũng thúc đẩy NH3 khuếch tán vào không khí. Đáy ao nên được phơi khô giữa các vụ và nên rải vôi đất axit để kích thích quá trình oxy hóa các chất hữu cơ giữa các vụ nhằm giảm nitơ amoniac giải phóng thẳng vào nước trong vụ nuôi. tag: quản lý trang trại trực tuyến

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/doc-tinh-cua-amoniac-lam-suy-giam-suc-khoe-va-muc-tang-truong-cua-dong-vat-36678.html

Kiểm soát bệnh ở tôm nuôi nhờ các loài lợi khuẩn Probiotic

Thuốc kháng sinh được sử dụng với số lượng lớn trong nhiều trường hợp không hiệu quả, hoặc dẫn đến sự gia tăng độc lực của tác nhân gây bệnh và hơn nữa là nguyên nhân của mối quan tâm về sự thúc đẩy chuyển sang đề kháng kháng sinh gây bệnh ở người. tag: phần mềm quản lý ao

Công nghệ probiotic ( men vi sinh ) cung cấp một giải pháp cho những vấn đề này.

Thành phần các loài vi khuẩn trong bể ương giống hoặc ao nuôi thủy sản lớn có thể được thay đổi bằng cách đưa thêm các loài vi khuẩn đã chọn lọc để thay thế chỗ các loài vi khuẩn có hại thông thường.

Có thể kiểm soát được độc tính của các loài vi khuẩn Vibrio phát sáng theo cách này. Khi đưa vào các dòng vi khuẩn Bacillus được chọn lọc đặc biệt giúp giảm đi nhiều dòng Vibrio phát sáng trong ao và bể nuôi.

Một trang trại ở Negros, Philippines, vốn đã bị tàn phá bởi bệnh Vibrio phát sáng do sử dụng liều cao thuốc kháng sinh trong thức ăn, nhưng tôm đã đạt được tỉ lệ sống 80 – 100 % trong tất cả các ao xử lý bằng probiotic men vi sinh ).

Việc sử dụng vi khuẩn có lợi để thế chỗ vi khuẩn gây bệnh nhờ các quá trình cạnh tranh được ứng dụng trong ngành chăn nuôi là một biện pháp chữa trị tốt hơn điều trị kháng sinh và hiện đang được ngành nuôi trồng thủy sản áp dụng để kiểm soát các tác nhân gây bệnh.

Thuật ngữ “probiotic” đã được định nghĩa là: “probiotic ( men vi sinh ) là đơn hoặc đa hỗn hợp nuôi cấy các vi sinh vật sống sử dụng cho động vật hoặc con người, tác động có lợi cho vật chủ bằng cách cải thiện các đặc tính của hệ vi sinh vật bản địa.

Khác động vật trên cạn, động vật thủy sản nuôi bị bao quanh bởi một môi trường hỗ trợ các mầm bệnh cơ hội một cách độc lập với vật chủ, vì vậy các loại mầm bệnh có thể tăng lên nhanh xung quanh động vật nuôi.

Vibrio phát triển dính vào tảo, sau đó có thể đạt mật độ quần thể cao sau khi động vật phù du ăn phải tảo và sau đó bài tiết ra tảo bị phân giải ở thể phân cục; Vibrio là vi khuẩn đường ruột trong cá và tôm cũng như động vật phù du.

Trong các ao nuôi trồng thủy sản thường có mật độ động vật thủy sản và tảo rất cao, số lượng vi khuẩn Vibrio cũng cao hơn so với ngoài biển.

Sự khởi phát bệnh tôm do tiếp xúc với một số lượng lớn vi khuẩn Vibrio, đặc biệt là khi khả năng gây bệnh đã tăng quá mức do dùng quá liều các hợp chất kháng khuẩn cho thấy rằng cần một sự bảo vệ. tag: phần mềm quản lý trang trại

Trong hơn thập kỷ qua, hệ sinh thái vi khuẩn và công nghệ sinh học đã tiến triển đến mức có sẵn các sản phẩm thương mại và các công nghệ để có thể xử lý một khu vực rộng lớn đất và nước nhằm tăng mật độ quần thể của các loài vi khuẩn cụ thể hoặc các hoạt động sinh hóa.

Quy trình phân hủy sinh học bioremediation (hoặc tăng cường sinh học bioaugmentation) được áp dụng trong nhiều lĩnh vực, nhưng thành công rất khác nhau, tùy thuộc vào bản chất của các sản phẩm được sử dụng và các thông tin kỹ thuật sẵn có cho người sử dụng.

Vi khuẩn đưa vào ao phải được lựa chọn theo các chức năng đặc biệt đều tuân theo chuẩn xử lý sinh học với mật độ quần thể đủ cao và trong các điều kiện môi trường thích hợp để đạt được kết quả mong muốn.

Quy trình tăng cường sinh học (bioaugmentation) và việc sử dụng các loại men vi sinh là các công cụ quản lý quan trọng trong nuôi trồng thủy sản, nhưng hiệu quả của nó tùy thuộc vào sự am hiểu bản chất của khả năng cạnh tranh giữa các loài hoặc các dòng vi khuẩn cụ thể.

Hiệu quả cũng dựa trên cùng một khái niệm được áp dụng thành công trong xử lý sinh học đất và việc sử dụng các loại men vi sinh trong trong ngành chăn nuôi. tag: quản lý trang trại trực tuyến

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/kiem-soat-benh-o-tom-nuoi-nho-cac-loai-loi-khuan-probiotic-36679.html

Các quy trình thực hành quản lý tốt trong nuôi tôm – Phần II

31. Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên khan hiếm và rất quý giá. Cố gắng tối đa hóa hiệu suất sử dụng nước. tag: phần mềm quản lý ao

Các quy trình thực hành quản lý tốt trong nuôi tôm – Phần II

32. Cẩn thận khi thay nước. Không thay nước hoặc bơm nước vào trong ao thường xuyên.

33. Không nên thay nước trong tháng đầu tiên. Nếu cần thiết có thể thay nước vào tháng thứ hai nhưng cố gắng giảm thiểu thì càng tốt.

34. Tháo nước khi thực vật phù du phát triển (nở hoa) quá dày, nghĩa là nước có màu xanh lá cây đậm hoặc nước màu nâu sẫm.

35. Khi tháo nước, gây nhiễu động ở phần dưới đáy ao gần cổng thoát nước để bỏ đi các chất thải hữu cơ có màu đen từ trong ao.

36. Không tháo nước hoặc thay nước vượt quá 15 – 30 cm độ sâu của ao trong một ngày.

37. Chỉ lấy nước vào ao khi trong khu vực nuôi không nhiễm bệnh.

38. Luôn luôn sử dụng lưới lọc hai lớp có mắt lưới mịn hoặc kích cỡ mắt lưới 300 µm để lọc nước đưa vào ao.

39. Sử dụng vôi nông nghiệp sau mỗi lần lấy nước hoặc thay nước và sau khi mưa. Vôi có tác dụng là chất đệm cho nước.

40. Nếu có bọt trên bề mặt nước hoặc nếu màu nước đột nhiên thay đổi hoặc trở nên trong thì thay 5 – 10 cm nước và bón thêm vôi nông nghiệp với liều lượng 200 – 300 kg mỗi ha.

41. Thường xuyên kiểm tra các thông số chất lượng nước.

42. pH của nước nên trong khoảng 7,5 đến 8,5. Để đo pH sử dụng chất chỉ thị phổ biến dạng lỏng hoặc giấy quỳ. Nếu pH thấp hơn 7,5 thì sử dụng vôi vỏ sò để tăng pH. Nếu pH cao hơn 8,5 thì thay nước để giảm pH.

43. Độ mặn của nước lý tưởng cho tôm là 10 – 25 ppt. Sử dụng máy đo độ mặn.

44. Hàm lượng oxy hòa tan (DO) nên trong khoảng 5 – 6 ppm. Có thể sử dụng máy đo DO điện tử để đo hàm lượng oxy hòa tan trong nước.

Nếu cạn kiệt oxy trong ao, tôm sẽ bắt đầu bơi trên mặt nước đặc biệt là vào buổi sáng sớm. Hàm lượng oxy hòa tan dưới 4 ppm sẽ gây căng thẳng cho tôm.

Do đó, nếu ở mức dưới 4 ppm đặc biệt là ban đêm và vào buổi sáng sớm thì chạy sục khí bánh guồng hoặc máy bơm nước để thông khí nước bằng cách phun nước khắp mặt ao.

Nếu không có dịch bệnh trong vùng nuôi thì có thể thay nước để nâng oxy hòa tan.

45. Màu nước nên có màu xanh lá cây hoặc màu nâu cho thấy thực vật phù du phát triển tốt. Nước không nên đục hoặc trong hoặc màu nâu hoặc màu xanh lá cây sẫm. Điều này cho thấy hoặc thực vật phù du không phát triển hoặc phát triển quá dày, cả hai tình trạng đều không nên xảy ra trong ao.

46. Kiềm nên ở mức 100 ppm. Có thể sử dụng kit kiểm tra độ kiềm tức thời để đo hàm lượng kiềm.

47. Ammoniac phải thấp hơn 0,1 ppm. Có thể đo bằng kit kiểm tra ammoniac tức thời.

48. Hydrogen Sulfide phải là 0 ppm. Có thể đo bằng kit kiểm tra Hydrogen Sulfide tức thời.

49. Loại bỏ tảo đáy khi nó phát triển trong ao. Nếu không loại bỏ được, nó sẽ phân hủy ở đáy ao và giải phóng khí độc gây căng thẳng cho tôm.

50. Cũng thường xuyên cần loại bỏ tảo sợi và hydrilla (rong đuôi chồn, rong đen, rong gai, hắc tảo) từ ao. Nếu không loại bỏ được, tôm có thể bị vướng vào các sợi tảo và chết. Cá măng có thể hiệu quả để loại bỏ tảo này.

51. Thường xuyên theo dõi sức khỏe và mức tăng trưởng của tôm. Có thể kiểm tra bằng cách lấy 10 – 15 con tôm từ khay thức ăn hàng ngày hoặc quăng chài tôm hàng tuần.

52. Tôm phải sạch với màu sắc cơ thể bình thường, không mất bất kỳ chân hay râu. Đường ruột phải đầy.

Nếu vỏ hoặc mang tôm bị bẩn thì có nghĩa là đáy ao không sạch. Cách khắc phục là cho thức ăn sang chỗ đáy sạch hơn và thay khoảng 10 cm nước rồi bón vôi nông nghiệp ở mức 200 kg/ ha.

53. Nếu tìm thấy trên mặt nước tôm bị phân trắng hay tôm bệnh hoặc tối màu thì kiểm tra xem mang chúng có bị bẩn hoặc đen, nếu có thì giảm lượng thức ăn và thay 10 cm nước.

54. Nếu phát hiện bệnh trong ao, trên cơ sở ghi chép hàng ngày về số lượng tôm bệnh hoặc chết.

Nếu tỷ lệ chết hàng ngày vẫn ở mức thấp, 5 con mỗi ngày, hoặc giảm xuống, thì không cần thu hoạch khẩn cấp. Kiểm tra tôm bệnh để phát hiện bệnh bằng cách sử dụng kit xét nghiệm dot blot ví dụ như là loại Shrimple để xác nhận bệnh đốm trắng.

55. Loại bỏ tôm bệnh và chết ngay khi nó xuất hiện trong ao và chôn ở xa vị trí ao nuôi. Không vứt tôm chết và bị bệnh ở kênh mương hoặc ngoài trời. Không dùng bất kỳ hóa chất hay thuốc khi không được tư vấn từ chuyên viên sức khỏe tôm. Không có thuốc để chữa trị các bệnh do virút trên tôm.

56. Nếu tỷ lệ chết hàng ngày gia tăng nhanh, bị hoặc không bị đốm trắng trên tôm, kết hợp lượng tiêu thụ thức ăn giảm nhanh thì cần thu hoạch khẩn cấp.

Nếu tỉ lệ chết nhanh tới 50 con/ngày và nhật ký ao không cho thấy nguyên nhân môi trường rõ ràng hoặc xét nghiệm dot blot xác nhận bệnh đốm trắng, thu hoạch toàn bộ bằng lưới và giữ nước trong ao ít nhất một tháng.

Nếu tôm quá nhỏ để thu hoạch, vẫn giữ tôm trong ao ít nhất một tháng. Nếu cần cấp bách để chuẩn bị cho vụ khác thì sử dụng vôi clorua hoặc hypochlorite canxi ở mức 1.000 kg/ha để khử trùng nước ao và sau 15 ngày tháo nước ra kênh.

57. Đuổi các loại động vật và chim chóc khỏi các ao bị ảnh hưởng bệnh. Không chuyển nhân công trang trại hoặc đổi vật dụng trang trại từ các ao nuôi bị bệnh sang ao khác.

58. Điều quan trọng nữa là phải thu hoạch cẩn thận, xử lý và bảo quản tôm để duy trì độ tươi và chất lượng tôm.

59. Phối hợp thu hoạch với trang trại khác trong khu nuôi. Đảm bảo thông báo cho những người nuôi kế bên biết về việc thu hoạch.

Trước khi thu hoạch 3 đến 4 ngày, bón vôi nông nghiệp vào ao đặc biệt là ở các góc và khu vực mương ở mức 200 kg/ha, cách này sẽ giúp làm sạch bề mặt vỏ. Tránh thu hoạch trong giai đoạn lột xác, nghĩa là trăng tròn hoặc bắt đầu con trăng mới.

Hai ngày trước khi thu hoạch kiểm tra xem có tôm nào lột xác không, nếu khoảng hơn 10 % tôm mới lột xác thì trì hoãn việc thu hoạch 1 hoặc 2 ngày. Không thay nước hoặc giảm mức nước 3 – 4 ngày trước khi thu hoạch.

Thu hoạch từ 6 giờ chiều đến 6 giờ sáng. Tránh thu hoạch và đóng gói tôm vào lúc nóng trong ngày. Không cho tôm ăn 6 giờ trước khi thu hoạch để giữ cho đường ruột rỗng và giúp tôm sống lâu hơn. tag: phần mềm quản lý trang trại

Hoàn tất thu hoạch trong vòng 6 – 8 giờ. Nếu cần thiết thì sử dụng nhiều máy bơm nước để thu hoạch kịp thời và bắt gần hết tôm bằng túi lưới. Tránh sử dụng lưới để thu hoạch khi nước nông.

Nếu khó tháo nước ao theo bình thường, sử dụng cửa làm bằng thanh tre hoặc lưới cá đặt ở một góc tại chỗ sâu trong ao để cố định túi lưới và để thu hoạch tôm. Tách tôm nhặt bằng tay với tôm thu hoạch bằng túi.

Phải rửa thật sạch tôm bằng nước sạch và nhúng tôm trong thùng đá lạnh khoảng 15 phút để làm chết lạnh.

Cách này làm cho tôm tươi. Luôn luôn không sử dụng nước ao hoặc nước bẩn trong quá trình rửa và làm chết lạnh. Không sử dụng bất kỳ hóa chất nào trong khi rửa tôm hoặc làm chết lạnh. Đảm bảo dùng đá chất lượng tốt để làm chết lạnh và đóng gói.

Sử dụng lượng tôm và đá xay bằng nhau, trộn đúng cách trong bồn vận chuyển cách nhiệt. Trước khi xếp chồng các hộp đã đóng gói lên nhau, đảm bảo đáy của các hộp phải sạch sẽ. Luôn luôn giữ tình trạng sạch sẽ.

60. Giữ nhật ký nuôi trong quản lý ao là rất quan trọng.

Điều này giúp phân tích kết quả vụ nuôi, nguyên nhân có thể gây bệnh, vv…, ngoài ra để kiểm tra các chi tiêu và thu nhập liên quan đến vụ nuôi, nhờ đó nâng cao hiệu quả kinh tế trong quản lý vụ nuôi.

Đó là một điều kiện tiên quyết trong truy xuất tôm trên thị trường.

Nhật ký ao hàng ngày bao gồm thông tin về chi tiết chuẩn bị ao, nguồn giống, chất lượng và thả giống, các biện pháp xử lý đất và nước, thay nước, loại và số lượng thức ăn, các thông số chất lượng nước, thông tin về tình trạng sức khỏe tôm, thông tin thu hoạch, chi phí và thu nhập.

61. Để đạt hiệu quả tốt hơn trong tiếp thị, cách duy nhất tiến tới là tổ chức các nhóm người nuôi quy mô nhỏ trong khu nuôi.

Các nhóm người nuôi như thế có thể dễ dàng thuận lợi trong việc mua các nguyên vật liệu đầu vào có chất lượng với giá rẻ hơn nhờ đó giảm chi phí sản xuất. Nhiều nhóm người nuôi ở xã có thể cùng liên kết để tiếp thị tôm nuôi với giá tốt hơn.

Thị trường quốc tế luôn có nhu cầu mua tôm có chứng nhận. Điều này có thể cung cấp cho người nuôi lợi thế trong thị trường quốc tế cạnh tranh cao, không chỉ bán sản phẩm thành công mà còn bán được với giá cao.

Nhóm người nuôi có trách nhiệm và thành công là nhóm đối tượng hấp dẫn đối với khối ngân hàng và bảo hiểm để gia hạn tín dụng và bảo hiểm vụ nuôi, nhờ đó sẽ giảm bớt gánh nặng tài chính và rủi ro cho người nuôi.

Người tiêu dùng đang ngày càng quan tâm đến chất lượng và các vấn đề an toàn thực phẩm do tác động của nó đối với sức khỏe con người.

Các nước nhập khẩu đã cấm các loại tôm nhiễm hóa chất đặc biệt là thuốc kháng sinh, thuốc trừ sâu và dư lượng hóa chất độc hại khác. Các hóa chất gây ô nhiễm có thể là từ các trại tôm giống, trại ương, trang trại và nhà máy chế biến.

Vì thế các loại hóa chất không được sử dụng trong bất kỳ khâu nào trong quy trình sản xuất và chuỗi cung ứng. Tôm cũng có thể bị nhiễm vi sinh vật hoặc vi khuẩn có hại như Salmonella, E.coli, vi khuẩn Vibrio cholerae.

Nhiễn khuẩn có thể là do điều kiện mất vệ sinh tại các vùng nuôi như nhà vệ sinh mở trên các kênh của nguồn nước, sử dụng phân hữu cơ ướt / không qua xử lý như phân bò, phân gia cầm, vv…

Ngoài ra nó có thể do quy trình thực hành xử lý thu hoạch và sau thu hoạch không tốt, chế biến mất vệ sinh và điều kiện đóng gói.

Nhiễm khuẩn có thể được ngăn chặn bằng cách sử dụng nhà vệ sinh hợp vệ sinh trong các lĩnh vực nông nghiệp, xử lý nước trong ao lắng, các quy trình thực hành cải tiến trong xử lý thu hoạch và sau thu hoạch, thực hiện chương trình HACCP trong các nhà máy chế biến và đóng gói.

Một khía cạnh chất lượng khác là độ tươi của tôm. Quy trình chế biến và bảo quản tôm nhanh ngay sau thu hoạch là chìa khóa để bảo quản độ tươi của tôm. tag: quản lý trang trại trực tuyến

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cac-quy-trinh-thuc-hanh-quan-ly-tot-trong-nuoi-tom-%C3%A2%E2%82%AC%E2%80%9C-phan-ii-36681.html

Các chỉ tiêu chọn lựa Probiotics (men vi sinh, men tiêu hóa) sử dụng trong nuôi tôm

-Trung Tâm Quốc Gia về Thông tin Công nghệ Sinh học, Thư viện Y Quốc gia Mỹ

Sàng lọc động vật khỏe mạnh trong thời kỳ dịch bệnh bùng phát —-> Phân lập các dòng vi khuẩn. tag: phần mềm quản lý ao

Các chỉ tiêu chọn lựa Probiotics (men vi sinh, men tiêu hóa) sử dụng trong nuôi tôm

I. Đánh giá in vitro về tiềm năng của dòng vi khuẩn có lợi probiotic ( men vi sinh, men tiêu hóa ) . 

Sản xuất các hợp chất ức chếKháng sinh

Bacteriocins

Siderophores

Monostatin

Lyzozymes

Proteases

Hydrogen peroxide

Axit hữu cơ

Cạnh tranh về dinh dưỡngSắt

Chất hữu cơ

Các yếu tốđề kháng Các yếu tố bám dínhCạnh tranh về dinh dưỡng

 II. Đánh giá in vitro các tác động có lợi đến vật chủ

Khả năng xâm chiếm. tag: phần mềm quản lý trang trại

Mô bệnh học

Tăng cường đáp ứng miễn dịch

Cải thiện chất lượng nước

Tác động đến mức tăng trưởng và tỉ lệ sống

Các thử nghiệm thí điểm so sánh

—->  Cảm nhiễm thực nghiệm kháng lại các dòng gây bệnh

—–> Dòng vi khuẩn có lợi Probiotic ( men vi sinh,men tiêu hóa )

Đánh giá kinh tế

Thủ tục đăng ký

—-> Sản phẩm thương mại. tag: quản lý trang trại trực tuyến

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cac-chi-tieu-chon-lua-probiotics-men-vi-sinh-men-tieu-hoa-su-dung-trong-nuoi-tom-36682.html