Monthly Archives: December 2017

Stress trên tôm

1.Stress là gì

Stress là trạng thái mất cân bằng nội mô của cơ thể, là một trạng thái sinh lý không bình thường gây ra do các tác động của các yếu tố bất lợi của môi trường ngoài hay trong cơ thể. tag: phần mềm quản lý ao

Stress trên tôm

Các yếu tố này gọi là các tác nhân stress.

Khi điều kiện ngoại cảnh thay đổi, có tác nhân stress mà cơ thể không duy trì được cân bằng nội mô thì con vật sẽ lâm vào trạng thái stress và phải trải qua quá trình stress để tiến tới thích nghi với ngoại cảnh mới.

2. Một số yếu tố gây stress tác động lên tôm

1.     Sự thay đổi nhanh của nhiệt độ

2.     Sự thay đổi nhanh pH

3.     Độ mặn biến động

4.     Mưa liên tục

5.     Quá trình vận chuyển tôm giống, sang tôm

6.     Mật độ thả tôm dày

7.     Thiếu oxygen

8.     Nồng độ CO2 cao

9.     Nitrite

10.  NH3

11.  H2S

12.  Chất rắn lơ lửng cao

13.  Kim loại nặng

14.  Độc tố do nấm, vi khuẩn và thức ăn

15.  Thuốc trừ sâu

16.  Thường xuyên thiếu dinh dưỡng

17.  Lột xác

18.  Xử lý nước bằng hóa chất quá liều/hóa chất độc

19.  Ký sinh trùng

20.  Nhiễm trùng nhẹ

21.  Bệnh

3. Cách phát hiện tôm bị stress:

– Màu sắc cơ thể khác so với bình thường như màu hồng nhạt, tím nhạt hoặc sậm màu hơn so với bình thường

– Giảm ăn hoặc đôi khi bỏ ăn.

– Dễ bị cong thân, đục cơ

4. Ảnh hưởng của stress đến tôm:

– Tiêu hóa giảm, giảm hấp thu dưỡng chất.

– Mất khoáng, mất chất dinh dưỡng.

– Giảm sức đề kháng

– Bơi lội kém, chậm chạp

– Tăng trưởng chậm.

5. Giúp tôm vượt qua stress

– Chủ động giảm thiểu các nhân gây stress cho tôm.

– Sử dụng SAN ANTI SHOCK trước khi thả tôm và định kỳ cho tôm nuôi, đặc biệt vào những lúc nắng nóng, mưa liên tục, thời thiết thay đổi đột ngột, sang tôm. Giúp tăng cường sức đề kháng, giảm stress.

– Khi vận chuyển tôm giống để tránh stress cho tôm cần sử dụng SAN ANTI SHOCK hòa vào nước, giúp tôm chống stress trong khi vận chuyển.

– Sử dụng MONUMAN hay HEPAVIROL PLUS định kỳ giúp tăng cường hệ miễn dịch, giúp gan hoạt động tốt, đường ruột khỏe.

– Bổ sung khoáng vi lượng đa lượng định kỳ trong ao nuôi bằng CALCIPHORUS, MIRAMIX No9, MIRAMIX No10

– Phòng khí độc NH3, H2S phát sinh trong ao nuôi do sự phân hủy thức ăn thừa và các chất thải từ tôm bằng chế phẩm Deodorants, BACPOWER, VS –STAR, YUCADO

– Sát trùng nguồn nước nuôi định kỳ bằng GUARSA, WUNMID giúp tiêu diệt virus, vi khuẩn, nấm gây bệnh cho tôm. tag: phần mềm phối trộn thức ăn

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/stress-tren-tom-36643.html

Bệnh gregarines trên tôm

Với mật độ nuôi tăng nhanh, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, tạo điều kiện cho các mầm bệnh – trong đó có ký sinh trùng phát triển mạnh và phát tán nhanh, làm cho tình hình dịch bệnh diễn biến ngày càng phức tạp và chưa có biện pháp hữu hiệu để kiểm soát. tag: phần mềm quản lý ao

Bệnh gregarines trên tôm

Trong đó nổi bật nhất là bệnh phân trắng, xuất hiện ở nhiều vùng nuôi tôm của cả nước, tuy không xảy ra thành dịch lớn, nhưng việc phòng và điều trị bệnh chưa hiệu quả, bệnh hay hay tái phát.

Một trong những nguyên nhân gây bệnh được xác định là do ký sinh trùng 2 tế bào Gregarines.

TÁC NHÂN GÂY BỆNH

* Phân loại

Lớp: Eugregarinida

Họ: Gregarinidae

Giống: Gregariness

Loài: Nematopsis spp

Cephalolobus spp

Paraophiodina spp

*Cấu tạo

Gregarines ở giai đoạn trưởng thành (còn gọi là thể dinh dưỡng) gồm có 2 tế bào. Tế bào phía trước (Protomerite – P) có cấu tạo phức tạp gọi là đốt trước, có cơ quan đính của ký sinh trùng (Epimerite- E) và tế bào phía sau (Deutomerite – D).

Hình: Cấu tạo thể dinh dưỡng của Gregarines

* Vòng đời

Khi tôm ăn thức ăn là thân mềm, giun đốt (vật chủ trung gian của Gregarines) đã nhiễm bào tử (SporeGregarines, bào tử trong thức ăn sẽ nẩy mầm thành hạt bào tử (Sporozoite) bám vào thành và các mấu lồi của dạ dày hoặc các tế bào biểu mô của ruột trước (a, b).

Bào tử bám vào dạ dày và ruột bằng một gốc bám đặc biệt (holdfast), lấy chất dinh dưỡng từ vật chủ để phát triển thành thể dinh dưỡng (trophozoite) (c), chúng tiếp ký sinh và phát triển đến mức độ nhất định sẽ hình thành một số bào tử.

Bào tử di chuyển về phía ruột sau, tồn tại trong các nếp gấp của ruột, tiếp tục giai đoạn bào tử của ký sinh trùng, mỗi bào tử phát triển thành một kén giao tử (Gametocyst), gồm có các giao tử nhỏ và giao tử lớn (d). Khi kén giao tử vỡ ra, các giao tử nhỏ mang tính đực, giao tử lớn mang tính cái, kết hợp với nhau hình thành các hợp tử (Zygote) (e), theo phân ký chủ ra môi trường.

Hợp tử (Zygote) là thức ăn của nhuyễn thể hai vỏ (Bivalvia) và giun đốt (Polydora cirrhosa) chúng là các động vật sống ở đáy ao tôm.

Qua con đường thức ăn, hợp tử xâm nhập vào ruột nhuyễn thể hoặc giun đốt, hình thành các bào tử trong tế bào biểu mô ruột của giun đốt và động vật thân mềm (f). Kén bào tử (Sporocyste) theo phân của nhuyễn thể, giun đốt ra ngoài môi trường sẽ là thức ăn của tôm (g).

Tiếp tục, bào tử theo thức ăn vào dạ dày và bám vào ruột của tôm (a, b), lấy chất dinh dưỡng để lớn lên và bắt đầu một chu kỳ sống mới.

 

Hình: Vòng đời của Gregarines

ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH

* Phân bố, tác hại, dấu hiệu phát hiện bệnh

Bệnh Gregarines xuất hiện ở nhiều loài giáp xác nuôi biển khác nhau tại Châu Á, Châu Mỹ. Tôm nhiễm bị Gregarines với cường độ nhẹ, không thể hiện dấu hiệu bệnh lý rõ ràng, chỉ cho thấy tôm nuôi hơi chậm lớn.

Ở Việt Nam kiểm tra tôm thẻ, tôm sú nuôi đều đã phát hiện nhiễm Gregarines thuộc giống Nematopsis sp ở ruột và dạ dày với mức độ nhiễm rất cao, tỷ lệ từ 70-100%, xảy ra ở cả hệ thống ương giống và ao nuôi tôm thịt.

Khi cảm nhiễm với mức độ cao có thể gây tắc ruột không hấp thu dưỡng chất và thương tổn niêm mạc ruột (Sindermann, 1990).

Bệnh thường gặp ở tôm 40 – 50 ngày tuổi trở lên, thường xuất hiện trong mùa nắng nóng, nhiệt độ nước cao, nuôi mật độ dày, cải tạo ao không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật.

Một số trường hợp tôm giống đưa ra ao đất khoảng 10 ngày đã phát hiện được bệnh.

Dấu hiệu nổi bật của bệnh là xuất hiện nhiều đoạn phân trắng nổi trên mặt nước ở cuối góc ao và xuôi theo hướng gió, tôm trong các ao này có ruột rỗng và đứt quãng, dạ dày và ruột tôm bệnh có chuyển màu hơi vàng hoặc trắng, có các điểm tổn thương ở ruột tạo điều kiện cho vi khuẩn Vibrio xâm nhập gây hoại tử thành ruột, tôm có thể thải ra các dây phân màu trắng trắng, tôm giảm ăn.

Sau giai đoạn thải phân trắng gan tôm teo lại, ốp vỏ, bơi lờ đờ, tấp bờ.

Có thể phát hiện bệnh khi thấy xuất hiện của các dây phân trắng trên ao, hoặc chẩn đoán bệnh dựa vào kiểm tra tiêu bản mẫu tươi hoặc dùng phương pháp mô bệnh học, có nhuộm H và E, để phát hiện ký sinh trùng Gregariness trong từ ruột và dạ dày tôm bệnh. Ngoài ra có thể kiểm tra để phát hiện các hạt bào tử trong phân tôm dưới kính hiển vi.

 

Hình: Kiểm tra phát hiện Gregarines trong ruột tôm dưới kính hiển vi.

* Quản lý bệnh

Phòng bệnh tổng hợp:

– Chọn tôm giống có chất lượng tốt, có xét nghiệm Gregarines trong ruột tôm giống.

– Cải tạo ao triệt để, đúng quy trình kỹ thuật.

– Sử dụng nguồn nước đã được xử lý mầm bệnh để nuôi tôm.

– Thả giống với mật độ vừa phải.

– Quản lý chất lượng nước nuôi chặt chẽ, đảm bảo duy trì các chỉ số môi trường nằm trong khoảng cho phép, tránh để môi trường biến động gây sốc tôm.

– Hạn chế các sinh vật trung gian (cua, còng, giáp xác…) bằng các sản phẩm an toàn, sát trùng nước trước khi cấp vào ao nuôi.

– Sử dụng thức ăn có chất lượng tốt.

– Định kỳ bổ sung khoáng chất, vitamin, chế phẩm vi sinh vào thức ăn, cũng như tạt xuống ao để tăng cường sức đề kháng cho tôm nuôi như SANSORIN + B12, CALCIPHORUS, SAN ANTI SHOCK và cải thiện chất lượng nước bằng chế phẩm sinh học BACPOWER hay diệt khuẩn định kỳ bằng GUARSA

– Theo dõi tình trạng sức khỏe của tôm để có biện pháp xử lý kịp thời.

Phương pháp trị bệnh Gregarines gây phân trắng trên tôm

– Diệt khuẩn bằng WUNMID (0,3-0,4 ppm) hay GUARSA (0,2 ppm) vào 8 -9 h sáng.

– Dùng thuốc đặc trị RADOS  cho ăn từ 2 -3 ngày, ngày 1 lần. tag: phần mềm phối trộn thức ăn

– Sau khi thấy hết phân trắng tiến hành cho ăn Hepavirol Plus hay SANSORIN + B12

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/benh-gregarines-tren-tom-36644.html

Kinh nghiệm sử dụng hóa chất sát trùng trong nuôi tôm

Còn nếu thời tiết về mùa đông như ở Miền Trung, Bắc thì nên xử lý TOXINPOND+ để dư lượng hóa chất sát trùng phân hủy, bay hơi hết, rồi tiến hành như trên. tag: phần mềm quản lý ao

Kinh nghiệm sử dụng hóa chất sát trùng trong nuôi tôm

Trong những năm gần đây, khi mà mô hình nuôi tôm thâm canh ngày càng phát triển làm cho áp lực dịch bệnh (đốm trắng, Taura, EMS,..) ngày càng tăng cao, thì việc sử dụng hóa chất sát trùng trong quá trình chuẩn bị cũng như quản lý môi trường nước ao nuôi để tôm phát triển tốt là cần thiết.

Tuy nhiên, nếu dùng hóa chất không đúng cách sẽ ảnh hưởng xấu đến môi trường ao nuôi cũng như sức khỏe tôm và chất lượng tôm nuôi, thậm chí làm tôm chết.

Vì vậy, ngoài việc áp dụng đúng quy trình kỹ thuật nuôi còn cần phải quan tâm và chú trọng nhiều hơn đến việc lựa chọn và sử dụng đúng loại, đúng liều lượng các loại hóa chất nhằm nâng cao năng suất nuôi và góp phần rất lớn trong việc ổn định môi trường, phòng ngừa dịch bệnh trong vùng nuôi, đảm bảo chất lượng sản phẩm.

Dùng hóa chất sát trùng trong ao nuôi tôm như thế nào cho đúng

* Trong giai đoạn chuẩn bị ao nuôi, người nuôi tôm thường sử dụng các loại hóa chất Iodine, KMnO4, Chlorine để sát trùng nước ao. Tuy nhiên, việc sử dụng hóa chất sát trùng phải được tiến hành trước khi thả tôm giống trong 3 – 5 ngày để hạn chế tối đa mầm bệnh do vi khuẩn, virus có trong nước.

Trong thời gian này, người nuôi phải tranh thủ ngay khi dư lượng hóa chất sát trùng phân hủy, bay hơi hết (thường trước 48 giờ), cần nhanh chóng gây màu nước, cấy vi sinh và thả tôm giống.

* Giai đoạn tôm còn nhỏ (từ khi thả tôm giống đến 45 ngày): giai đoạn này tôm rất nhạy cảm (dễ sốc, yếu, chết) với các chất sát trùng sử dụng trong ao tôm, đặc biệt lúc tôm yếu, bệnh, đặc biệt trong trường hợp tôm giống đã nhiễm Vibrio, tôm lột xác nhanh (1,5 – 4 ngày/lần), hệ miễn dịch kém, dễ nhiễm bệnh virus (đốm trắng, đầu vàng) và vi khuẩn (hoại tử gan tụy).

Mặt khác, hóa chất sát trùng còn diệt tảo, động vật phù du khiến rong đáy phát triển và thiếu thức ăn cho tôm. Vì vậy trong giai đoạn này người nuôi chỉ nên dùng hóa chất sát trùng trong trường hợp cấp thiết.

* Giai đoạn từ 45 ngày đến khi thu hoạch: giai đoạn này tôm có sức chống chịu cao hơn với hóa chất sát trùng.

Nhưng người nuôi vẫn cần cẩn thận với các hóa chất sát trùng Chlorine, KMnO4 và Idodine do tính diệt tảo và động vật phù du trong ao, ảnh hưởng đến sức khỏe, gây chết tôm đang yếu hoặc đang trị bệnh.

Không nên sử dụng hóa chất sát trùng có độ an toàn thấp khi các ao tôm xung quanh có dịch bệnh, môi trường ao dơ hoặc gần thu hoạch, nhất là lúc tôm yếu, bệnh.

Trong nuôi tôm nước lợ, người nuôi thường chỉ quan tâm tới giá cả và hiệu lực hóa chất sát trùng mà quên tác dụng mặt trái của chúng.

Nhiều hóa chất sát trùng có tác dụng diệt tảo nên khi tảo chết tiêu tốn nhiều ôxy để phân hủy, pH trong ao giảm, khí độc tăng làm tôm giảm ăn.

Mặt khác, tôm thường bỏ ăn ngay sau khi đánh hóa chất sát trùng do bị sốc hóa chất, hệ miễn dịch suy giảm và dễ nhiễm bệnh.

Do đó, hóa chất sát trùng được xem là tốt đối với ao tôm khi ít gây hại đến hệ vi sinh vật có lợi, động vật phù du và không ảnh hưởng đến sức khỏe tôm, nhất là khi tôm còn nhỏ, đang lột xác hay khi bị bệnh.

Cần lưu ý, sau khi sát trùng nước thì vi khuẩn gây hại sẽ nhanh chóng bùng phát trở lại.

Vì thế, người nuôi cần phải cấy vi sinh ngay sau 48 giờ sử dụng để giúp vi khuẩn có lợi Bacillus tạo quần thể ưu thế trước, từ đó khống chế mật độ vi khuẩn gây bệnh dưới mức nguy hiểm.

Ở điều kiện bình thường, việc sử dụng chế phẩm vi sinh định kỳ có thể lấn át vi khuẩn gây hại trong nước ao nuôi, trong trường hợp áp lực dịch bệnh cao, việc sử dụng hóa chất sát trùng là cần thiết vì giúp kiểm soát mật độ vi khuẩn có hại dưới mức nguy hiểm.

Một số tác dụng có hại của hóa chất sát trùng

– Chlorine: khi pH cao thì hiệu quả sử dụng sẽ giảm, nhất là khi pH trên 8. Khi ao nhiều mùn bã hữu cơ (do một phần Chlorine sẽ ôxy hóa chất hữu cơ) phải tăng liều, gây độc tố cho tôm và tốn kém.

Chỉ sử dụng Chlorine lúc cải tạo ao. Dùng Chlorine khó gây màu nước, làm chết tảo, dùng lâu năm đáy ao bị trơ làm nghèo hệ vi khuẩn có lợi.

– Hóa chất tím (KMnO4): không bền, giảm khả năng diệt trùng dưới ánh nắng mặt trời hoặc ở nhiệt độ cao nên cần phải bảo quản trong các lọ màu nâu đen để tránh ánh sáng trực tiếp, nên sử dụng lúc trời mát. Khi vào nước KMnO4 sẽ kết hợp với nước tạo ra MnO2 gây độc cho tôm.

– Formalin: ảnh hưởng xấu đến cơ quan hô hấp, hệ thần kinh và da.

– Iodine: mất tác dụng khi pH trên 6, nếu dùng vượt quá mức cho phép sẽ làm ao thiếu ôxy khiến tôm nổi đầu, chết hàng loạt.

– BKC: Tồn dư trong cơ thể tôm, ảnh hưởng đến giá trị xuất khẩu.

– GTA (Glutaraldehyde): rất độc với tôm cá

– TCCA (Tricholoroisocyanuric acid): Giảm tác dụng khi ao có nhiều mùn bả hữu cơ và khi pH cao, nhất là khi pH trên 8.

Lưu ý:

– Chỉ sử dụng một trong các loại hoá chất trên (hoặc hóa chất tím, hoặc Formol hoặc Chlorine, hoặc BKC, hoặc Iodine,…) và nếu sử dụng Chlorine để diệt trùng thì trước đó mấy ngày không nên sử dụng vôi vì vôi làm tăng pH, giảm khả năng diệt trùng của Chlorine.

– Tuyệt đối không được dùng Chlorine và BKC ở tháng cuối. tag: phần mềm phối trộn thức ăn

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/kinh-nghiem-su-dung-hoa-chat-sat-trung-trong-nuoi-tom-36645.html

Bệnh đốm đen trên tôm thẻ

I. ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH

1. Nguyên nhân gây bệnh

Do các giống vi khuẩn có trong nguồn nước ao nuôi như VibrioPseudomonasAeromonas gây nên. Những loại vi khuẩn này có khả năng tiết ra chất men ăn mòn lớp vỏ chitin của tôm nuôi. tag: phần mềm quản lý ao

2. Điều kiện xuất hiện bệnh

– Bệnh đốm đen thường phát sinh trong các ao nuôi bị ô nhiễm, hàm lượng khí độc NH3, H2S, NO2 cao, độ kiềm dưới 100ppm kéo dài, nhiệt độ nước trên 29oC trong thời gian dài, hàm lượng oxy không đạt ngưỡng tối ưu 6ppm trong suốt thời gian nuôi, thả nuôi với mật độ dày.

– Bệnh có thể xuất hiện quanh năm, đặc biệt vào thời điểm giao mùa, thời tiết thay đổi bất thường diễn ra kéo dài trong 5 – 10 ngày tỷ lệ tôm bệnh thường tăng cao.

3. Phân bố lan truyền

– Bệnh thường xảy ra ở các ao nuôi có độ mặn từ 5 – 25‰.

– Tùy theo điều kiện môi trường ao nuôi và sức khỏe của tôm mà tốc độ lây lan trong đàn tôm nhanh hay chậm.

– Bệnh thường xảy ra trên tôm thẻ từ 20 ngày tuổi cho đến khi thu hoạch, tuy nhiên tập trung nhiều nhất ở giai đoạn 25 – 45 ngày tuổi.

4. Dấu hiệu bệnh lý

– Tôm nhiễm bệnh nhẹ vẫn ăn bình thường, ruột vẫn đầy thức ăn, không có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy gan yếu, nhợt nhạt nhưng có hiện tượng mòn đuôi, cụt râu, đuôi có thể bị phồng nhẹ, râu và đuôi tôm chuyển sang màu đỏ. Xuất hiện các đốm đen nhỏ, ẩn dưới vỏ hoặc các đốm đen xuất hiện thành cụm ở giáp đầu ngực, phụ bộ, ở thân tôm hoặc ở vùng mang. Sau khi lột xác xong tôm sẽ trở lại trạng thái khỏe mạnh.

– Tôm mắc bệnh nặng thường lờ đờ, tấp bờ, bỏ ăn, tăng trưởng chậm, khó lột xác, bị dính vào vỏ cũ hoặc mất phụ bộ khi lột xác. Tôm có thể xuất hiện dấu hiệu rắng lưng, đục thân, ruột rỗng, gan tụy nhợt nhạt, bề mặt thân tôm bị đốm đen có thể có mùi hôi. Vỏ tôm bị ăn mòn và có thể bị lở loét ở phần dưới vỏ, những vết lở loét này là nơi thuận lợi để các mầm bệnh khác như vi khuẩn, nấm, nguyên sinh động vật,…tấn công vào cơ thể như làm cho bệnh càng nặng thêm.

5. Tác hại của bệnh

– Trong trường hợp tôm bị bệnh nặng nếu không kịp thời xử lý thì trong vòng 15 – 30 ngày tỷ lệ chết có thể lên đến 95%.

– Trong trường hợp phát hiện bệnh trễ thì phải tiến hành thu hoạch vì việc chữa trị không có hiệu quả.

– Bệnh đốm đen sẽ làm giảm giá trị thương phẩm của tôm khi thu hoạch. tag: phần mềm phối trộn thức ăn

II. BIỆN PHÁP PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH

1. Phòng bệnh

– Làm tốt công tác cải tạo ao, sát trùng nước loại bỏ mầm bệnh trong ao đúng quy trình kỹ thuật.

– Có ao chứa lắng để chủ động cung cấp nước đã xử lý cho ao nuôi khi cần thiết.

– Kiểm tra tôm giống kỹ, đảm bảo nguồn giống không nhiễm các bệnh truyền nhiễm do virus, vi khuẩn,…

– Thả giống với mật độ vừa phải.

– Luôn duy trì mực nước tối thiểu trong ao nuôi > 1,2m.

*Tạo điều kiện thuận lợi giúp tôm lột xác đúng chu kỳ:

– Định kỳ bổ sung CALCIPHORUSC Mix 25%MUNOMAN, HERTO vào thức ăn để tăng cường sức khỏe cho tôm.

– Cung cấpđầy đủ oxy, khi cần thiết có thể dùng OXY BETTER giúp tôm dễ dàng lột xác hơn.

– Quản lý cho ăn chặc chẽ, không cho ăn thừa.

– Định kỳ sát trùng nước bằng WUNMID để loại bỏ mầm bệnh trong ao.

– Quản lý chất lượng nước nuôi chặt chẽ, định kỳ sử dụng chế phẩm sinh học BACPOWER để phân hủy chất hữu cơ, giảm khí độc trong ao cải thiện chất lượng nước.

– Thường xuyên kiểm tra tình trạng sức khỏe của tôm để có biện pháp xử lý kịp thời.

2. Trị bệnh

– Sát trùng nước bằng WUNMID hoặc SANOBEN liều lượng:

+ Đối với tôm dưới 1 tháng tuổi: 500g/1.500m3 nước – 500g/1.000m3 nước.

+ Đối với tôm trên 1 tháng tuổi: 500g/1.000m3 nước.

Xử lý lúc 9 – 10 giờ sáng.

– Sau khi sát trùng nước 24 giờ sử dụng AQUA BIO BZT 227g/6.000 m3 nướchoặc BACPOWER 500g/6.000 m3 nướcđể bổ sung vi sinh vật có lợi cho ao nuôi.

– Giảm cho ăn 10 – 20%.

– Tăng cường bổ sung dinh dưỡng vào thức ăn cho tôm bằng C MIX 25% 8g/kg thức ăn, CALCIPHORUS 5ml/kg thức ăn, MUNOMAN 6g/kg thức ăn cho tôm ăn iên tục đến khi hết bệnh.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/benh-dom-den-tren-tom-the-36656.html

Giải pháp kiểm soát tảo lam trong ao tôm

Giải pháp kiểm soát tảo lam trong ao tôm

TẢO LAM (Cyanobacteria)

– Tảo lam (tảo xanh hay vi khuẩn lam) là loại tảo có sức sống tốt, có chu kỳ phát triển dài. Đặc tính nổi bật của tảo lam là khả năng chịu nhiệt tốt. tag: phần mềm quản lý ao

– Tảo phát triển mạnh vào các tháng nóng trong năm (tháng 5). Một số tảo lam có thể tiến hành quang hợp trong môi trường yếm khí tương tự như vi khuẩn.

– Khi hàm lượng muối dinh dưỡng trong ao nuôi cao là điều kiện lý tưởng cho nhóm tảo lam phát triển, tỉ lệ N/P là từ 3-5/1 thì tảo lam sẽ phát triển chiếm ưu thế.

– Tảo lam, được chia thành 2 dạng là tảo lam dạng sợi và tảo lam dạng hạt. Tảo lam dạng hạt thường thấy là Microcystis sp.(a),… Tảo lam dạng sợi thường thấy như: Nostoc sp. (b), Anabaena sp. (c), Oscillatoria sp.(d),…

Hình ảnh một số loài tảo lam

TÁC HẠI CỦA TẢO LAM

– Tính độc của tảo lam dạng hạt và dạng sợi đều như nhau, nhưng dạng sợi thường gây hại nhiều hơn do vướng vào mang tôm và tôm cũng thường ăn phải nhưng không tiêu hóa được.

– Khi tảo lam bùng nổ sẽ làm giảm quần đàn phiêu sinh động, làm cho tôm nuôi có mùi hôi, đồng thời còn là nhóm thải ra chất nhờn ở màng tế bào có thể gây tắc nghẽn mang của tôm. Một số trường hợp tôm bị phân trắng thường tìm thấy nhóm tảo này trong đường ruột tôm ở dạng chưa tiêu hóa.

* Độc tố thần kinh

Độc tố thần kinh là các phân tử hữu cơ có thể tấn công hệ thống thần kinh của động vật xương sống và không xương sống. Độc tố thần kinh thường ảnh hưởng cấp tính lên động vật có xương sống làm tê liệt các cơ lưng và cơ của cơ quan hô hấp. Độc tố này được sản xuất bởi nhiều loài tảo lam như Anabaena, Aphanizomenon, Mycrocystis, Planktothrix, Raphidiopsis, Arthrospira, Cyclindrospermum, Phormidium và Osillatoria. tag: phần mềm quản lý trang trại

* Độc tố gan tụy

Độc tố gan tụy được sản xuất bởi nhiều loài tảo lam và gây chết nhiều loài động vật thủy sản, chim, các động vật hoang dã, vật nuôi và cả con người, làm mất chức năng gan gây hư mang làm cho tôm cá khó thở, yếu, mất khả năng bơi lội và có thể giết chết cá. Các loài tảo lam có thể sản xuất độc tố gan tụy là Microcystisaeruginosa, M. ichthyoblabe, M. novacekiM. viridis, M. Wesenbergi, Oscillatoria nigroviridis, Nostoc linckia, N. paludosum, N. rivulare, N. zetterstedtii.

Độc tố do tảo lam có thể gây độc trên các động vật khác và cả con người khi các động vật này ăn phải tôm cá bị ngộ độc tảo lam và tích lũy độc tố này trong cơ thể.

GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT TẢO LAM

* Phòng Ngừa Tảo Lam

– Cải tạo ao thật kỹ, diệt tảo lam có sẵn trong nguồn nước cấp hoặc trong đất đáy và quanh bờ ao.

– Không sử dụng phân lân gây màu nước.

– Tránh lấy nước để nuôi tôm trong giai đoạn tảo nở hoa (thủy triều đỏ) từ các nguồn nước ở lân cận.

– Không thay nước ao nếu nguồn nước gần kề có hiện tượng tảo đang nở hoa.

– Quản lý cho ăn chặt chẽ, tránh cho ăn thừa làm gia tăng hàm lượng chất dinh dưỡng trong ao.

– Quạt nước và tăng cường sục khí giúp gia tăng hàm lượng oxy hòa tan, thay đổi hàm lượng khí carbonic pH trong ao theo hướng có lợi cho các loài tảo có lợi cạnh tranh với tảo lam.

– Duy trì màu nước trong ao, có thể gây màu nước bằng SAN SUPER BENTHOS kết hợp với PREMIX 100 hay MIRAMIX N8 để hạn chế cường độ ánh sáng nhằm giảm sự quang hợp và tăng trưởng của tảo nếu cần.

– Định kỳ bổ sung chế phẩm sinh học một trong sản phẩm BACPOWERAQUA BIO BZT, VS-STAR ngay từ tháng đầu để phân hủy nhanh chất hữu cơ, tiêu thụ nguồn carbon, phospho, kali và nitrogen giúp chất lượng nước tốt hơn loại bỏ các điều kiện có lợi cho tảo lam phát triển.

– Định kỳ cào nhẹ nền đáy ao bằng dây xích (kéo đáy) nhằm giải phóng lượng nitơ tích tụ trên nền đáy ra môi trường nước để hạn chế tảo lam phát triển.

Phác Đồ Xử Lý Tảo Lam: Có 2 cách xử lý

* Xử lý tảo lam bằng hóa chất

– Ngày thứ 1:

+ Sáng 9 – 10 giờ trời nắng, dùng ALGAE RV 100g/2.000m3 nước.

+ Khuya dùng vôi nóng tạt đều xuống ao.

– Ngày thứ 2: xử lý lặp lại ALGAE RV nếu thấy cần thiết

+ Chiều: sử dụng ZEOLITE 20 kg/1.000m3 nước hay TOXINPOND+ 3 – 4 lít/ 1.000m3 nước để keo tụ chất vẩn, nhớt nước, xác tảo.

– Ngày thứ 3: Cấy vi sinh AQUA BIO BZT 227g/6.000 m3 nướchoặc BACPOWER 500g/6.000 m3 nướcđể phân hủy xác tảo chết.

* Xử lý tảo lam bằng vi sinh

Sử dụng AQUA BIO BZT 227g/5.000 m3 nướchoặc BACPOWER 100g/1.000 m3 nướctạt xuống ao vào lúc 6 – 10 giờ tối. Kết hợp dùng vôi nóng lúc khuya. Sử dụng lại lần 2 sau 2 ngày đến khi hết tảo lam.

* Chú ý:

– Nếu mật độ tảo quá dày thì phải giảm lượng ăn hoặc ngừng cho tôm ăn, đồng thời xi phông đáy trước khi áp dụng các biện pháp xử lý.

– Tăng cường sục khí trong suốt quá trình xử lý. tag: quản lý trang trại trực tuyến

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/giai-phap-kiem-soat-tao-lam-trong-ao-tom-36657.html

Quản lý độ kiềm trong ao nuôi tôm

Độ Kiềm Là Gì?

Độ kiềm chỉ khả năng trung hòa acid của nước, thể hiện tổng số các ion có tính bazơ trong nước như bicarbonat (HCO3-), carnonat (CO3-) và hydroxit (OH-). tag: phần mềm quản lý ao

Quản lý độ kiềm trong ao nuôi tôm

Trong ao nuôi tôm, độ kiềm ảnh hưởng trực tiếp đến sự biến động pH trong ao, ảnh hưởng đến quá trình lột xác và cứng vỏ của tôm nuôi.

Độ kiềm thích hợp cho tôm thẻ là 120 – 180 mg CaCO3/l và tôm sú là 80 – 120 mg CaCO3/l.

Trong quản lý ao nuôi tôm cần kiểm tra độ kiềm hàng tuần. Đặc biệt ở những ao nuôi có độ mặn thấp hoặc nguồn nước có độ kiềm thấp hoặc các động vật hai mảnh vỏ phát triển trong ao nuôi tôm, cần phải đo độ kiềm thường xuyên hơn để điều chỉnh hàm lượng cho phù hợp.

Điều quan trọng khác trong thực hành quản lý ao nuôi tôm là phải biết cách điều chỉnh khi độ kiềm tăng cao hay giảm thấp. Kiểm soát độ kiềm và các biện pháp hạn chế sự ảnh hưởng của nó đến sức khỏe của tôm nuôi là yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất tôm nuôi.

Quản Lý Độ Kiềm Trong Ao Nuôi Tôm

1. Độ kiềm cao

Nguyên nhân:

Khi mật độ tảo cao quá trình quang hợp diễn ra mạnh, độ kiềm tăng lên rất nhanh (pH > 9) do carbonat giải phóng từ bicarbonat:

2(HCO3)- + tảo = CO2 (quang hợp) + (CO3)2- + H2O

(CO3)2- + H2O = (HCO3)- + OH-

Khi tổng độ kiềm cao (200 – 300 mg/l CaCO3) với giá trị pH > 8,5 sẽ ngăn cản quá trình lột xác của tôm. tag: phần mềm quản lý trang trại

Cách xử lý:

– Thay nước 20 – 30% thực hiện 3 lần/tuần.

– Đánh vôi Dolomite vào ban đêm sau khi thay nước 30 – 50 kg/ha hoặc rải đường mật xuống ao: 1 – 2 kg/1.000 m3 để giảm pH.

* Ao không thay nước được:

– Hạn chế chạy quạt ban ngày. Tập trung chạy ban đêm (nếu có).

– Xử lý tảo:

+ Cắt tảo bằng ALGAE RV 100g/1.000m3 nước vào 9 giờ sáng khi trời có nắng.

+ Chiều sử dụng TOXINPONDZEOLITE để lắng xác tảo, giảm khí độc NH3.

+ Sau 2 ngày cấy vi sinh AQUA BIO BZT hoặc BACPOWER để phân hủy xác tảo.

– Dùng đường mật 3 – 4kg/1000 m3 tạt liên tục 4 – 5 ngày.

2. Độ kiềm thấp

Nguyên nhân:

– Do nguồn nước có độ kiềm thấp

– Do sự hiện diện của động vật thân mềm hai mảnh vỏ trong ao, chúng hấp thụ muối carbonat và lọc hết tảo làm thức ăn, kết quả là làm nước trong và có độ kiềm rất thấp.

Cách xử lý:

* Dùng SD SUPER ALKALINE nâng kiềm vào buổi chiều 15 – 16 giờ10 – 20 kg/1.000m3 nước liên tục 2 – 3 ngày cho đến khi độ kiềm đạt > 100 mgCaCO3/l.

– Nếu pH <8: kết hợp sử dụng CaCO3 10 – 20 kg/1.000 m3/lần.

– Diệt thân mềm 2 mảnh vỏ: Dùng OSCILL ALGA 08 hoặc TRIHO 05 với liều lượng như sau:

Tôm trên 10 ngày tuổi: 0,8 lít/1.000 m3 nước.

Tôm trên 1 tháng tuổi: 1,5 lít/1.000 m3 nước.

Lưu ý:

Khái niệm độ kiềm và độ cứng thường gây khó hiểu vì cả hai đều chỉ thị hàm lượng mg/L của carbonat.

Tuy nhiên, độ kiềm đo tổng số các ion có tính bazơ như carbonat, bicarbonat, phosphat, hydroxit,…hiện diện trong nước; trong khi đó độ cứng thể hiện tổng nồng độ của các ion muối hóa trị 2, quan trọng nhất là muối của ion canxi và magie. tag: quản lý trang trại trực tuyến

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/quan-ly-do-kiem-trong-ao-nuoi-tom-36658.html

Giải pháp kiểm soát động vật hai mảnh vỏ trong ao tôm

Hình: Chu kỳ sống của động vật hai mảnh vỏ điển hình (vẹm).

1. Ảnh hưởng của các loài hai mảnh vỏ trong ao nuôi tôm

Các loài động vật hai mảnh vỏ (hến, vẹm, chem chép, trai, hàu,…) ăn tảo bằng cách lọc chúng thông qua các tiêm mao. Khi quần thể các loài này phát triển quá mức trong ao tôm sẽ:

– Làm giảm mật độ tảo, làm tăng độ trong của nước ao. tag: phần mềm quản lý ao

– Cạnh tranh thức ăn, oxy hòa tan với tôm.

– Hấp thụ nhiều vi khoáng đặc biệt là canxi carbonate (CaCO3) để duy trì và phát triển vỏ, làm lượng khoáng chất trong ao nhất là canxi và độ kiềm của nước giảm mạnh làm tôm bị mềm vỏ và có thể gây chết tôm.

– Làm tôm chậm tăng trưởng, tăng tỷ lệ phân đàn.

– Là nguồn mang nhiều mầm bệnh có thể lây truyền sang tôm.

2. Phòng ngừa các loài hai mảnh vỏ gây hại trong ao tôm

– Cải tạo ao nuôi hút bùn, rải vôi và phơi ao, lấy nước qua túi lọc, diệt tạp, diệt khuẩn đúng kỹ thuật

– Cần có ao lắng xử lý nước kỹ trước khi cấp nước vô ao nuôi. tag: phần mềm quản lý trang trại

3. Biện pháp xử lý

Cải tạo ao:

Dùng OSCILL ALGA 08 hoặc TRIHO 05 2 lít/ 1.000 m3 nước.

Trong ao nuôi tôm thịt:

Dùng OSCILL ALGA 08 hoặc TRIHO 05 với liều lượng như sau:

+ Tôm trên 10 ngày tuổi: 0,8 lít/1.000 m3 nước.

+ Tôm trên 1 tháng tuổi: 1,5 lít/1.000 m3 nước.

Dùng trong khoảng thời gian từ 18 – 21 giờ.

Nếu tôm yếu thì nên dùng Yucado 100% Natural/ VS Yuca trước 1- 2 giờ đồng hồ hay San Antishock trước 6 giờ đồng hồ, kèm theo chạy quạt. tag: quản lý trang trại trực tuyến

Nếu dùng liều cao, sau 36 giờ đồng hồ nên dùng thêm TOXINPOND+ để tôm khỏe.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/giai-phap-kiem-soat-dong-vat-hai-manh-vo-trong-ao-tom-36659.html

Tác nhân gây bệnh vi bào tử trùng trên tôm và giải pháp phòng trị bệnh

Trong đó có khoảng 30 loài ký sinh và gây bệnh trên giáp xác, làm giảm sinh trưởng, phát triển và giảm giá trị thương phẩm của sản phẩm thủy sản. tag: phần mềm quản lý ao

Tác nhân gây bệnh vi bào tử trùng trên tôm và giải pháp phòng trị bệnh

Tác Nhân Gây Bệnh

Bệnh vi bào tử trùng Microsporidosis gây ra bởi ký sinh trùng Microsporidian. Bệnh đã được báo cáo trên rất nhiều loài tôm he Penaeidae khác nhau: Penaeus monodonP. merguiensisP. setiferuP. Vannamei,…(Sprague và Couch, 1971).

Bệnh này còn được gọi bằng các tên khác như: bệnh vi bào tử ở tôm he (Microsporidia diseasse), bệnh tôm sữa (Milk disease, Milky shrimp), bệnh tôm bông (Cotton shrimp) hoặc tôm lưng trắng (White back). Hiện nay đã phát hiện có 3 giống vi bào tử thường ký sinh gây bệnh ở tôm he gồm.

Giống: Thelohania (Agmasoma) Hennguy, 1892

Giống Pleistophora Gurley, 1893 (Plistophora)

Giống Ameson (Nosema).

* Đặc điểm cấu tạo

Các giống vi bào tử ký sinh trên tôm có cấu tạo cơ thể rất đơn giản, tương tự như Glugea.

Bên ngoài có màng do chất kitin tạo thành, có cực nang hình dạng giống bào tử, bên trong có sợi tơ. Loài Glugea intestinalis có cực nang dài bằng chiều dài cơ thể.

Trong tế bào chất của vi bào tử có hạch hình cầu và tế bào chất cũng có hình cầu.

Hình 1: Cấu tạo vi bào tử Glugea (Nguồn Bychowsky, 1962).

* Chú thích: Pt – Sợi tơ; e – màng ngoài bào tử; en – màng trong bào tử; n – nhân tế bào; v – không bào phía sau.

* Đặc điểm của chu kỳ sống

Các vi bào tử gây bệnh cho tôm là các sinh vật ký sinh bắt buộc, thường có chu kỳ phát triển khá phức tạp. Tôm là ký chủ trung gian của vi bào tử trùng. Vật chủ cuối cùng là các loài cá ăn tôm.

Theo kết quả của một thử nghiệm cho thấy khi dùng xác của tôm chết vì bệnh vi bào tử trộn vào thức ăn cho cá hồi biển, sau đó thu lấy phân cá hồi, trộn vào thức ăn cho tôm, bệnh đã phát sinh ở đàn tôm nuôi thí nghiệm sau một khoảng thời gian ngắn.

Như vậy, trong hệ thống nuôi giáp xác, sự có mặt của các loài cá, hoặc dùng cá tạp làm thức ăn cho tôm, chính là nguồn lây bệnh vi bào tử cho tôm cua nuôi.

Đặc Điểm Của Bệnh

* Phân bố lan truyền

Bệnh phân bố ở khắp các vùng nuôi tôm he trên phạm vi toàn thế giới. Ở Việt Nam bệnh vi bào tử cũng đã xuất hiện trên diện tích rộng ở các vùng nuôi tôm trọng điểm miền Tây Nam bộ gây tổn thương tế bào gan, tụy ở tôm.

* Dấu hiệu bệnh lý:

Tôm bị bệnh thường giảm ăn, chậm phát triển kèm theo sự xuất hiện các vùng cơ có màu trắng đục hay trắng sữa. Hiện tượng trắng đục dễ nhận biết nhất khi chúng xuất hiện tại vùng cơ vân ở phần bụng.

Ở tôm lớn dấu hiệu lâm sàng trên càng dễ dàng quan sát hơn, đặc biệt ở phần lưng từ gan tụy đến phần giữa thân hoặc đục cơ ở phần đốt cuối cơ thể.

Hình 2: Tôm bị vi bào tử trùng ký sinh

Tôm 30 ngày thả nuôi bị nhiễm bệnh có sự hình thành những đám màu trắng lớn, vi bào tử trùng thay thế dần cho hệ gan tụy và các cơ quan khác bao gồm dạ dày và cơ của tôm.

Các dấu hiệu của tôm bệnh ở giai đoạn 45, 60, 75, 90, 105 và 120 ngày tuổi cho thấy mức độ lây nhiễm vi bào tử trùng càng trở nên nghiêm trọng hơn khi chúng gần như thay thế hoàn toàn hệ gan tụy. Ống gan tụy của những con tôm bị nhiễm bệnh nặng bị giãn rộng và hoại tử. tag: phần mềm quản lý trang trại

* Quá trình diễn tiến của bệnh:

Bệnh bào tử trùng bắt đầu xuất hiện trong ao tôm trong giai đoạn 15 – 20 ngày sau khi thả giống. Sự lây lan bệnh diễn ra mạnh nhất ở giai đoạn 40 – 50 ngày sau khi thả giống.

Số lượng tôm nhiễm bệnh tăng dần cho đến 60 ngày tuổi, có thể bởi vì ở tôm lớn thì vi bào tử trùng thay thế phần lớn cơ thịt và các cơ quan khác, do đó mà những mảng trắng đục sẽ dễ dàng quan sát hơn so với tôm còn nhỏ.

Tôm bị nhiễm vi bào tử trùng nặng thường bị mềm vỏ và chậm lớn hơn những con tôm mạnh khỏe.

Tỷ lệ phát hiện tôm bệnh trong chài thấp hơn rất nhiều so với tỷ lê tôm bệnh trong sàng ăn.

Điều này cho thấy những con tôm bị bệnh không thể cạnh tranh với những con tôm mạnh khỏe trong thời gian cho ăn, vì thế chúng thường tìm đến sàng ăn.

Chính vì thế mà việc đánh giá tỷ lệ tôm bệnh bằng cách chài sẽ chính xác hơn là đánh giá qua sàng ăn.

Tỷ lệ bệnh giảm nhẹ ở giai đoạn 80 – 90 ngày tuổi và đột ngột suy giảm nhanh chóng ở giai đoạn 105 ngày tuổi. Đến thời điểm thu hoạch chỉ còn một ít tôm bị bệnh được tìm thấy với dáu hiệu đục cơ từ phần đầu ngực đến giữa thân ở mặt lưng.

Trong giai đoạn này, có thể do tôm bệnh đã chết dần, và khi tôm lớn sức đề kháng bệnh tốt hơn nên tỷ lệ nhiễm bệnh giảm.

Phương Pháp Chẩn Đoán

* Chẩn đoán lâm sàng

Dựa vào dấu hiệu bệnh lý của bệnh như đục mờ cơ, các cơ vân chuyển sang màu trắng đục.

* Chẩn đoán phòng thí nghiệm

Kiểm tra mẫu bệnh phẩm dưới kính hiển vi lấy từ vùng cơ trắng đục ở độ phóng đại > 400 lần.

Biện Pháp Phòng Và Trị Bệnh

Phòng bệnh:

– Cải tạo ao, xử lý đáy và khu vực xung quanh ao thật kỹ, diệt địch hại, ký chủ trung gian mang mầm bệnh bằng GUARSA.

– Diệt cá tạp bằng WELL SAPONIN.

– Dùng GUARSA xử lý nước trước khi cấp vào ao.

– Không dùng tôm bố mẹ nhiễm vi bào tử tham gia sinh sản trong các trại giống, trong ao nuôi tôm thương phẩm, cần phát hiện sớm để loại bỏ những con tôm bị nhiễm vi bào tử ra khỏi quần đàn.

– Định kỳ 7 – 10 ngày cung cấp hệ vi sinh và enzyme có lợi bằng AQUA BIO BZT, BACPOWER tạo môi trường sống thuận lợi cho tôm.

-Thường xuyên bổ sung C MIX 25%, BIOTICBEST, BIOZYM-S, HEPAVIROL Plus, MUNOMAN vào thức ăn giúp tăng cường sức khỏe, tăng cường hoạt động hệ miễn dịch của tôm.

– Tạt khoáng MIRAMIX N10 hoặc CALCIPHORUS định kỳ.

* Trị bệnh:

Thay nước vào ao sẽ làm giảm đáng kể sự lây lan của bệnh.

Sử dụng GUARSA 0,3 – 0,8 kg/1000 m3 nước .

Sau 24 giờ, cấy lại vi sinh AQUA BIO BZT, DEODORANTS hoặc BACPOWER để tăng cường vi sinh có lợi cho ao.

Bổ sung dưỡng chất C MIX 25%, BIOTICBEST, BIOZYM-S, HEPAVIROL Plus, MUNOMAN vào thức ăn giúp tăng cường sức khỏe, tăng cường hoạt động hệ vào thức ăn, giúp tăng cường sức khỏe, giúp tôm mau hồi phục. tag: quản lý trang trại trực tuyến

Tạt khoáng MIRAMIX N10 hoặc CALCIPHORUS.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/tac-nhan-gay-benh-vi-bao-tu-trung-tren-tom-va-giai-phap-phong-tri-benh-36660.html

Cách diệt tảo đỏ tảo giáp trong ao nuôi

Trong đó nguyên nhân nguy hiểm nhất là do các loài tảo thuộc ngành tảo giáp (Pyrrophyta) như Peridinium cinctum, Ceratium hirundinella… khi chúng phát triển mạnh với mật độ cao làm cho nước có màu đỏ. TẢO GIÁP (Pyrrhophyta/dinophyta. tag: phần mềm quản lý ao

Cách diệt tảo đỏ tảo giáp trong ao nuôi

Tảo giáp (tảo hai roi) sống chủ yếu ở nước mặn, khoảng 10% sống trong nước ngọt. Chủ yếu tồn tại ở dạng đơn bào hình cầu hay hình sợi, có hai roi khác nhau: một roi ngang và một roi dọc. Nhiều loài có các tấm celuloze bao phủ.

Tảo giáp di chuyển rất nhanh trong thủy vực nhờ các tiêm mao xung quanh cơ thể. 50% loài tảo giáp sống tự dưỡng, còn lại sống dị dưỡng.

Có 2000 loài tảo giáp được biết đến, trong đó khoảng 60 loài có thể sản sinh độc tố phức tạp, là một nhóm tảo rất bền. Khi gặp điều kiện thuận lợi, sự bùng nổ về quần thể hoặc nở hoa có thể xảy ra, đôi khi làm cho cá và động vật có vỏ nhiễm bẫn, đặt ra một mối đe dọa lớn cho sức khỏe con người và động vật như Gymnodinium, Peridium, Ceratium, Protoperidinium,  AlexandriumChaetoceros, Noctiluca,….

Hình ảnh một số loài tảo giáp gây hại

Nguyên nhân khiến cho tảo giáp chiếm ưu thế trong ao nuôi là do nguồn nước cấp từ bên ngoài vào, trong quá trình nuôi do sự mất cân bằng khoáng đa vi lượng hoặc do nền đáy ao quá bẩn dẫn đến sự phát triển quá mức của loài tảo này. tag: phần mềm quản lý trang trại

Khi tảo giáp phát triển với mật độ cao trong ao nước sẽ có màu nâu đỏ, đồng thời mặt nước xuất hiện nhiều váng màu nâu đỏ. Thời điểm nắng gắt chúng tập trung nổi trên mặt nước và xuống đáy ao khi ánh sáng mặt trời giảm.

Tôm không tiêu hóa được loài tảo này do chúng có vách tế bào cứng, một số trường hợp tôm bị tắt ngẽn đường ruột hoặc phân bị đứt đoạn khi có quá nhiều tế bào tảo giáp trong ruột. Sự xuất hiện với mật độ cao của loài tảo này thường dẫn đến tôm nổi đầu về đêm và lúc sáng sớm do thiếu oxy trong nước và nước ao bị phát sáng ảnh hưởng nhiều đến tập tính sống của tôm nuôi.

Độc tố của tảo giáp

Gonyaulax polygramma: Nguyên nhân gây thiếu ôxy

Dinophysis acuta SPS: Diarrhetic ngộ độc ở động vật có vỏ (DSP)

Gambierdiscus toxicus, Ostreopsis mascarenensis: Ngộ độc cá

Alexandrium SPS acatenella: Gây tê liệt, ngộ độc ở động vật có vỏ (PSP)

Karenina breve SPS: Ngộ độc thần kinh ở động vật có vỏ (NSP)

Gymnodinium mikimotoi,...: Có hại cho cá, tôm và động vật biển, các tế bào có thể gây thiệt hại hoặc làm tắc nghẽn mang của các loài động vật.

Kiểm Soát Tảo Giáp Trong Ao Nuôi Tôm

* Các biện pháp phòng ngừa

– Tránh lấy nước để nuôi tôm trong giai đoạn tảo nở hoa đỏ (thủy triều đỏ) từ các nguồn nước ở lân cận.

– Không thay nước ao nếu nguồn nước gần kề có hiện tượng tảo đang nở hoa.

– Nếu quan sát thấy nguồn nước gần kề không có hiện tượng nở hoa thì nên chọn con nước thích hợp cấp vào.

– Trước khi cấp vào ao nuôi phải được xử lý bằng hóa chất diệt khuẩn như GUARSABKC++8000 để giảm mật độ tảo của nước sau khi cấp.

– Sử dụng AQUA BIO BZT hoặc BACPOWER định kỳ để duy trì chất lượng nước và không xảy ra tình trạng tảo phát triển quá mức.

– Khi tình trạng nghiêm trọng, tăng sục khí và siphon đáy định kỳ để quản lý nước ao tốt hơn.

– Cho ăn hợp lý, tránh cho ăn thừa.

* Phương pháp diệt tảo giáp- tảo đỏ

Cách 1: Xử lý tảo đỏ bằng vi sinh BACBIOZEO LabLab hoặc BACPOWER, liều 500g/3000 m3, lúc 8 giờ tối, mở máy quạt.

Cách 2: Cắt tảo giáp bằng hóa chất: như BKC++8000 hoặc ALGA RV, dùng lúc trời có năng, mở quạt, liều lượng trên nhãn mác. tag: quản lý trang trại trực tuyến

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cach-diet-tao-do-tao-giap-trong-ao-nuoi-36661.html

Nhận xét về tiềm năng của Probiotics

Lợi ích của probiotic đối với sức khỏe con người và động vật đã được chứng minh trong hàng trăm nghiên cứu khoa học. tag: phần mềm quản lý ao

Nhận xét về tiềm năng của Probiotics

Lactobacillus và Bifidobacterium là những nhóm probiotic chính; tuy nhiên có những báo cáo về tiềm năng probiotic của các loài như PediococcusLactococcusBacillus và nấm men.

Một số dòng probiotic đã được xác định cho thấy tác dụng tốt trong chống viêm, chống dị ứng và các đặc tính khác.

Bên cạnh đó, việc sử dụng các sản phẩm từ sữa và không từ sữa cũng giúp kích thích hệ miễn dịch theo nhiều cách khác nhau.

Đa dạng các loại thực phẩm sử dụng chung với probiotics cũng đã được chứng minh bằng tài liệu. Trong bài nhận xét này sẽ nói qua về lịch sử của probiotic và các ứng dụng trong các lĩnh vực y tế và thực phẩm, cũng như xu hướng mới về các sản phẩm và quy trình sản xuất.

Probiotic là một từ khá mới có ý nghĩa ‘cho sự sống’, được dùng để gọi các loài vi sinh vật có liên quan đến các tác dụng có lợi cho người và động vật. Các loài vi sinh vật này giúp cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột và đóng vai trò trong việc duy trì sức khỏe.

Các loài lợi khuẩn probiotic bao gồm chủ yếu là các giống Lactobacillus và Bifidobacterium, nhưng các giống BacillusPediococcus và một số nấm men cũng đã được nhận thấy là các ứng cử viên thích hợp.

Chúng cùng nhau đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể chống lại các loài vi sinh vật có hại và tăng cường miễn dịch cho vật chủ.

Có thể tìm thấy probiotic trong các sản phẩm từ sữa và không từ sữa.

Các sản phẩm này thường được dùng sau khi điều trị kháng sinh (đối với một số bệnh) làm mất đi hệ vi khuẩn trong đường tiêu hóa (cả các loài hữu ích và có hại được nhắm tới). tag: phần mềm quản lý trang trại

Việc thường xuyên sử dụng các thực phẩm có probiotic được khuyến khích để thiết lập một hệ vi khuẩn có lợi cân bằng trong hệ vi sinh vật đường ruột.

Probiotics (men vi sinh, lợi khuẩn) đã được nghiên cứu rộng rãi và khai thác về mặt thương mại trong nhiều sản phẩm đa dạng trên thế giới.

Những nghiên cứu gần đây cho thấy probiotics đã chứng minh các tác dụng có lợi cho sức khỏe con người và động vật.

Nhiều nghiên cứu lâm sàng về probiotictập trung vào trẻ con, các lĩnh vực liên quan đến kháng sinh và bệnh tiêu chảy của người đi du lịch.

Các sinh vật không gây bệnh được sử dụng như probiotics bao gồm sự đa dạng của loài và phân loài, khả năng bám dính, chiếm cứ và điều chỉnh hệ tiêu hóa của con người không phải là một đặc tính phổ biến rộng rãi.

Lactobacillus và Bifidobacterium là các nhóm probioticchính, tuy nhiên có những báo cáo về tiềm năng probioticcủa nấm men.

Nghiên cứu tương lai phải tìm hiểu về các cơ chế mà hệ vi khuẩn đường ruột tương tác với các biểu mô ruột trong vấn đề sức khỏe và bệnh tật.

Nhờ kiến ​​thức này để có thể phát triển các dòng probiotic tối ưu.

Khả năng chịu đựng của probiotics là một thông số quan trọng cho việc phát triển các sản phẩm thực phẩm probiotic.

Các công nghệ mới đã được phát triển để có thể cho ra tế bào định lượng cao ở quy mô lớn và đảm bảo tính ổn định của probiotics trong thực phẩm ở một thời gian dài.

Với các công nghệ khác nhau như bao vi nang (microencapsulation), cố định tế bào (cell immobilization) và lên men liên tục (continuous fermentation), các dòng probioticssẽ trở thành một thành phần quan trọng và hữu dụng trong các loại thực phẩm chức năng, mở rộng các ứng dụng probiotics sang các ngành công nghiệp dược phẩm và thực phẩm bổ sung. tag: quản lý trang trại trực tuyến

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nhan-xet-ve-tiem-nang-cua-probiotics-36662.html