Monthly Archives: July 2017

Các biện pháp môi trường trong nuôi tôm

Môi trường nuôi

Duy trì môi trường nuôi tốt là một trong những nguyên tắc cơ bản kiểm soát dịch bệnh, giảm stress (sự căng thẳng làm giảm sức đề kháng bệnh) cho thủy sản nuôi.

Cách tốt nhất để duy trì một môi trường nuôi tốt là thả số lượng post-larvae phù hợp với tiềm năng sản suất của hệ thống nuôi; cách này sẽ thay đổi chủ yếu tùy vào số lượng hệ thống sục khí sử dụng và việc thực hiện quy trình thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (GAP).

Tuy nhiên, do GAP có thể không luôn đảm bảo rằng chất lượng nước có thể chấp nhận được, do đó chất lượng nước ao nên được tiến hành theo dõi.

Các biến số quan trọng nhất cần theo dõi là oxy hòa tan, pH, độ mặn, ammonia nitơ và hydrogen sulfide (pS). Sự dao động pH hàng ngày lớn cho thấy thực vật phù du phát triển quá mức hoặc cần phải bón vôi để tăng độ đệm cho nước.

Thường thì các biến số khác sẽ không ra ngoài các giới hạn cho phép, trừ khi hệ thống sục khí không đáp ứng đủ cho lượng thức ăn đầu vào được sử dụng.

Chất lượng nước kích khởi EMS / AHPNS

pH trong các ao nuôi tôm thường cao, vì vậy giả thuyết về pH cao kích khởi EMS nên được chứng minh bởi các nghiên cứu sâu hơn.

Theo lôgic, bất kỳ biến đổi nào về chất lượng nước ở mức gây căng thẳng có thể làm tăng khả năng nhiễm bệnh cho tôm bao gồm cả EMS.

Như vậy, nên xem xét pH cũng như khả năng gây stress do các vấn đề khác của chất lượng nước là các cơ chế có thể kích khởi (gây) bệnh.

Probiotic (men vi sinh) trong nuôi tôm

Mặc dù là có việc sử dụng nhiều sản phẩm probiotic – men vi sinh trong nuôi tôm, nhưng không có bằng chứng nào chắc rằng việc bổ sung này cải thiện các điều kiện môi trường trong ao.

Probiotic (men vi sinh) không nên có hại cho môi trường nuôi hoặc cho tôm và cũng không có lý do gì để ngăn cản những người nuôi đang tin tưởng vào các sản phẩm probiotic khỏi việc sử dụng này.

Tuy nhiên, probiotic ( ) không nên được khuyến nghị như là một biện pháp có thể để giảm thiểu nguy cơ EMS / AHPNS trừ khi có thực hiện nghiên cứu và có bằng chứng cho thấy hiệu quả của nó cho mục đích này.

Tẩy trùng nước trong ao nuôi tôm

Nhiều hợp chất được sử dụng để tẩy trùng nước trong nuôi tôm trước khi thả tôm vào ao và để tẩy trùng cả lượng nước bù đắp cho ao mỗi khi bay hơi và bị thấm trong ao.

Chlorin được sử dụng rộng rãi để tẩy trùng nguồn nước cấp đô thị và đã có một vài nghiên cứu cho thấy các hợp chất Chlorin có thể là chất tẩy trùng hiệu quả khi được sử dụng ở hàm lượng 20 đến 30 mg/l trong nguồn nước cấp cho nuôi tôm.

Các hợp chất khác được sử dụng làm chất tẩy trùng trong nuôi tôm chưa được nghiên cứu.

Liều lượng hiệu quả của chất tẩy trùng thông thường sử dụng trong nuôi tôm nên được đưa ra thông qua xét nghiệm sinh học vi khuẩn.

Thuốc trừ sâu

Một số loại thuốc trừ sâu được sử dụng trên ruộng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long – đặc biệt loại thuốc trừ sâu tổng hợp thuộc nhóm pyrethroid “thế hệ mới” gây độc tính cao cho tôm.

Cần phải thực hiện các nghiên cứu về mối quan hệ giữa dư lượng thuốc trừ sâu ở bùn đáy ao và nước, sự căng thẳng của tôm, khả năng dễ bị nhiễm EMS / AHPNS và các loại bệnh tôm khác.

Tôm sú ấu niên Penaeus monodon bị nhiễm EMS/AHPNS ở Việt Nam. Gan tụy nhợt nhạt và teo, đường ruột rỗng.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cac-bien-phap-moi-truong-trong-nuoi-tom-36674.html

Các quy trình thực hành quản lý tốt trong nuôi tôm – Phần II

31. Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên khan hiếm và rất quý giá. Cố gắng tối đa hóa hiệu suất sử dụng nước.

Các quy trình thực hành quản lý tốt trong nuôi tôm – Phần II

32. Cẩn thận khi thay nước. Không thay nước hoặc bơm nước vào trong ao thường xuyên.

33. Không nên thay nước trong tháng đầu tiên. Nếu cần thiết có thể thay nước vào tháng thứ hai nhưng cố gắng giảm thiểu thì càng tốt.

34. Tháo nước khi thực vật phù du phát triển (nở hoa) quá dày, nghĩa là nước có màu xanh lá cây đậm hoặc nước màu nâu sẫm.

35. Khi tháo nước, gây nhiễu động ở phần dưới đáy ao gần cổng thoát nước để bỏ đi các chất thải hữu cơ có màu đen từ trong ao.

36. Không tháo nước hoặc thay nước vượt quá 15 – 30 cm độ sâu của ao trong một ngày.

37. Chỉ lấy nước vào ao khi trong khu vực nuôi không nhiễm bệnh.

38. Luôn luôn sử dụng lưới lọc hai lớp có mắt lưới mịn hoặc kích cỡ mắt lưới 300 µm để lọc nước đưa vào ao.

39. Sử dụng vôi nông nghiệp sau mỗi lần lấy nước hoặc thay nước và sau khi mưa. Vôi có tác dụng là chất đệm cho nước.

40. Nếu có bọt trên bề mặt nước hoặc nếu màu nước đột nhiên thay đổi hoặc trở nên trong thì thay 5 – 10 cm nước và bón thêm vôi nông nghiệp với liều lượng 200 – 300 kg mỗi ha.

41. Thường xuyên kiểm tra các thông số chất lượng nước.

42. pH của nước nên trong khoảng 7,5 đến 8,5. Để đo pH sử dụng chất chỉ thị phổ biến dạng lỏng hoặc giấy quỳ. Nếu pH thấp hơn 7,5 thì sử dụng vôi vỏ sò để tăng pH. Nếu pH cao hơn 8,5 thì thay nước để giảm pH.

43. Độ mặn của nước lý tưởng cho tôm là 10 – 25 ppt. Sử dụng máy đo độ mặn.

44. Hàm lượng oxy hòa tan (DO) nên trong khoảng 5 – 6 ppm. Có thể sử dụng máy đo DO điện tử để đo hàm lượng oxy hòa tan trong nước.

Nếu cạn kiệt oxy trong ao, tôm sẽ bắt đầu bơi trên mặt nước đặc biệt là vào buổi sáng sớm. Hàm lượng oxy hòa tan dưới 4 ppm sẽ gây căng thẳng cho tôm.

Do đó, nếu ở mức dưới 4 ppm đặc biệt là ban đêm và vào buổi sáng sớm thì chạy sục khí bánh guồng hoặc máy bơm nước để thông khí nước bằng cách phun nước khắp mặt ao.

Nếu không có dịch bệnh trong vùng nuôi thì có thể thay nước để nâng oxy hòa tan.

45. Màu nước nên có màu xanh lá cây hoặc màu nâu cho thấy thực vật phù du phát triển tốt. Nước không nên đục hoặc trong hoặc màu nâu hoặc màu xanh lá cây sẫm. Điều này cho thấy hoặc thực vật phù du không phát triển hoặc phát triển quá dày, cả hai tình trạng đều không nên xảy ra trong ao.

46. Kiềm nên ở mức 100 ppm. Có thể sử dụng kit kiểm tra độ kiềm tức thời để đo hàm lượng kiềm.

47. Ammoniac phải thấp hơn 0,1 ppm. Có thể đo bằng kit kiểm tra ammoniac tức thời.

48. Hydrogen Sulfide phải là 0 ppm. Có thể đo bằng kit kiểm tra Hydrogen Sulfide tức thời.

49. Loại bỏ tảo đáy khi nó phát triển trong ao. Nếu không loại bỏ được, nó sẽ phân hủy ở đáy ao và giải phóng khí độc gây căng thẳng cho tôm.

50. Cũng thường xuyên cần loại bỏ tảo sợi và hydrilla (rong đuôi chồn, rong đen, rong gai, hắc tảo) từ ao. Nếu không loại bỏ được, tôm có thể bị vướng vào các sợi tảo và chết. Cá măng có thể hiệu quả để loại bỏ tảo này.

51. Thường xuyên theo dõi sức khỏe và mức tăng trưởng của tôm. Có thể kiểm tra bằng cách lấy 10 – 15 con tôm từ khay thức ăn hàng ngày hoặc quăng chài tôm hàng tuần.

52. Tôm phải sạch với màu sắc cơ thể bình thường, không mất bất kỳ chân hay râu. Đường ruột phải đầy.

Nếu vỏ hoặc mang tôm bị bẩn thì có nghĩa là đáy ao không sạch. Cách khắc phục là cho thức ăn sang chỗ đáy sạch hơn và thay khoảng 10 cm nước rồi bón vôi nông nghiệp ở mức 200 kg/ ha.

53. Nếu tìm thấy trên mặt nước tôm bị phân trắng hay tôm bệnh hoặc tối màu thì kiểm tra xem mang chúng có bị bẩn hoặc đen, nếu có thì giảm lượng thức ăn và thay 10 cm nước.

54. Nếu phát hiện bệnh trong ao, trên cơ sở ghi chép hàng ngày về số lượng tôm bệnh hoặc chết.

Nếu tỷ lệ chết hàng ngày vẫn ở mức thấp, 5 con mỗi ngày, hoặc giảm xuống, thì không cần thu hoạch khẩn cấp. Kiểm tra tôm bệnh để phát hiện bệnh bằng cách sử dụng kit xét nghiệm dot blot ví dụ như là loại Shrimple để xác nhận bệnh đốm trắng.

55. Loại bỏ tôm bệnh và chết ngay khi nó xuất hiện trong ao và chôn ở xa vị trí ao nuôi. Không vứt tôm chết và bị bệnh ở kênh mương hoặc ngoài trời. Không dùng bất kỳ hóa chất hay thuốc khi không được tư vấn từ chuyên viên sức khỏe tôm. Không có thuốc để chữa trị các bệnh do virút trên tôm.

56. Nếu tỷ lệ chết hàng ngày gia tăng nhanh, bị hoặc không bị đốm trắng trên tôm, kết hợp lượng tiêu thụ thức ăn giảm nhanh thì cần thu hoạch khẩn cấp.

Nếu tỉ lệ chết nhanh tới 50 con/ngày và nhật ký ao không cho thấy nguyên nhân môi trường rõ ràng hoặc xét nghiệm dot blot xác nhận bệnh đốm trắng, thu hoạch toàn bộ bằng lưới và giữ nước trong ao ít nhất một tháng.

Nếu tôm quá nhỏ để thu hoạch, vẫn giữ tôm trong ao ít nhất một tháng. Nếu cần cấp bách để chuẩn bị cho vụ khác thì sử dụng vôi clorua hoặc hypochlorite canxi ở mức 1.000 kg/ha để khử trùng nước ao và sau 15 ngày tháo nước ra kênh.

57. Đuổi các loại động vật và chim chóc khỏi các ao bị ảnh hưởng bệnh. Không chuyển nhân công trang trại hoặc đổi vật dụng trang trại từ các ao nuôi bị bệnh sang ao khác.

58. Điều quan trọng nữa là phải thu hoạch cẩn thận, xử lý và bảo quản tôm để duy trì độ tươi và chất lượng tôm.

59. Phối hợp thu hoạch với trang trại khác trong khu nuôi. Đảm bảo thông báo cho những người nuôi kế bên biết về việc thu hoạch.

Trước khi thu hoạch 3 đến 4 ngày, bón vôi nông nghiệp vào ao đặc biệt là ở các góc và khu vực mương ở mức 200 kg/ha, cách này sẽ giúp làm sạch bề mặt vỏ. Tránh thu hoạch trong giai đoạn lột xác, nghĩa là trăng tròn hoặc bắt đầu con trăng mới.

Hai ngày trước khi thu hoạch kiểm tra xem có tôm nào lột xác không, nếu khoảng hơn 10 % tôm mới lột xác thì trì hoãn việc thu hoạch 1 hoặc 2 ngày. Không thay nước hoặc giảm mức nước 3 – 4 ngày trước khi thu hoạch.

Thu hoạch từ 6 giờ chiều đến 6 giờ sáng. Tránh thu hoạch và đóng gói tôm vào lúc nóng trong ngày. Không cho tôm ăn 6 giờ trước khi thu hoạch để giữ cho đường ruột rỗng và giúp tôm sống lâu hơn.

Hoàn tất thu hoạch trong vòng 6 – 8 giờ. Nếu cần thiết thì sử dụng nhiều máy bơm nước để thu hoạch kịp thời và bắt gần hết tôm bằng túi lưới. Tránh sử dụng lưới để thu hoạch khi nước nông.

Nếu khó tháo nước ao theo bình thường, sử dụng cửa làm bằng thanh tre hoặc lưới cá đặt ở một góc tại chỗ sâu trong ao để cố định túi lưới và để thu hoạch tôm. Tách tôm nhặt bằng tay với tôm thu hoạch bằng túi.

Phải rửa thật sạch tôm bằng nước sạch và nhúng tôm trong thùng đá lạnh khoảng 15 phút để làm chết lạnh.

Cách này làm cho tôm tươi. Luôn luôn không sử dụng nước ao hoặc nước bẩn trong quá trình rửa và làm chết lạnh. Không sử dụng bất kỳ hóa chất nào trong khi rửa tôm hoặc làm chết lạnh. Đảm bảo dùng đá chất lượng tốt để làm chết lạnh và đóng gói.

Sử dụng lượng tôm và đá xay bằng nhau, trộn đúng cách trong bồn vận chuyển cách nhiệt. Trước khi xếp chồng các hộp đã đóng gói lên nhau, đảm bảo đáy của các hộp phải sạch sẽ. Luôn luôn giữ tình trạng sạch sẽ.

60. Giữ nhật ký nuôi trong quản lý ao là rất quan trọng.

Điều này giúp phân tích kết quả vụ nuôi, nguyên nhân có thể gây bệnh, vv…, ngoài ra để kiểm tra các chi tiêu và thu nhập liên quan đến vụ nuôi, nhờ đó nâng cao hiệu quả kinh tế trong quản lý vụ nuôi.

Đó là một điều kiện tiên quyết trong truy xuất tôm trên thị trường.

Nhật ký ao hàng ngày bao gồm thông tin về chi tiết chuẩn bị ao, nguồn giống, chất lượng và thả giống, các biện pháp xử lý đất và nước, thay nước, loại và số lượng thức ăn, các thông số chất lượng nước, thông tin về tình trạng sức khỏe tôm, thông tin thu hoạch, chi phí và thu nhập.

61. Để đạt hiệu quả tốt hơn trong tiếp thị, cách duy nhất tiến tới là tổ chức các nhóm người nuôi quy mô nhỏ trong khu nuôi.

Các nhóm người nuôi như thế có thể dễ dàng thuận lợi trong việc mua các nguyên vật liệu đầu vào có chất lượng với giá rẻ hơn nhờ đó giảm chi phí sản xuất. Nhiều nhóm người nuôi ở xã có thể cùng liên kết để tiếp thị tôm nuôi với giá tốt hơn.

Thị trường quốc tế luôn có nhu cầu mua tôm có chứng nhận. Điều này có thể cung cấp cho người nuôi lợi thế trong thị trường quốc tế cạnh tranh cao, không chỉ bán sản phẩm thành công mà còn bán được với giá cao.

Nhóm người nuôi có trách nhiệm và thành công là nhóm đối tượng hấp dẫn đối với khối ngân hàng và bảo hiểm để gia hạn tín dụng và bảo hiểm vụ nuôi, nhờ đó sẽ giảm bớt gánh nặng tài chính và rủi ro cho người nuôi.

Người tiêu dùng đang ngày càng quan tâm đến chất lượng và các vấn đề an toàn thực phẩm do tác động của nó đối với sức khỏe con người.

Các nước nhập khẩu đã cấm các loại tôm nhiễm hóa chất đặc biệt là thuốc kháng sinh, thuốc trừ sâu và dư lượng hóa chất độc hại khác. Các hóa chất gây ô nhiễm có thể là từ các trại tôm giống, trại ương, trang trại và nhà máy chế biến.

Vì thế các loại hóa chất không được sử dụng trong bất kỳ khâu nào trong quy trình sản xuất và chuỗi cung ứng. Tôm cũng có thể bị nhiễm vi sinh vật hoặc vi khuẩn có hại như Salmonella, E.coli, vi khuẩn Vibrio cholerae.

Nhiễn khuẩn có thể là do điều kiện mất vệ sinh tại các vùng nuôi như nhà vệ sinh mở trên các kênh của nguồn nước, sử dụng phân hữu cơ ướt / không qua xử lý như phân bò, phân gia cầm, vv…

Ngoài ra nó có thể do quy trình thực hành xử lý thu hoạch và sau thu hoạch không tốt, chế biến mất vệ sinh và điều kiện đóng gói.

Nhiễm khuẩn có thể được ngăn chặn bằng cách sử dụng nhà vệ sinh hợp vệ sinh trong các lĩnh vực nông nghiệp, xử lý nước trong ao lắng, các quy trình thực hành cải tiến trong xử lý thu hoạch và sau thu hoạch, thực hiện chương trình HACCP trong các nhà máy chế biến và đóng gói.

Một khía cạnh chất lượng khác là độ tươi của tôm. Quy trình chế biến và bảo quản tôm nhanh ngay sau thu hoạch là chìa khóa để bảo quản độ tươi của tôm.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cac-quy-trinh-thuc-hanh-quan-ly-tot-trong-nuoi-tom-%C3%A2%E2%82%AC%E2%80%9C-phan-ii-36681.html

Sử dụng hiệu quả men vi sinh trong nuôi tôm

Tuy nhiên, việc nhận diện đúng và phương pháp sử dụng khoa học để phát huy tác dụng từng chủng loài vi sinh, mang lại hiệu quả thiết thực là vấn đề cần lưu ý.

Nhận diện

Chế phẩm vi sinh vật hữu ích có hai loại: loại dùng để xử lý môi trường và loại trộn vào thức ăn cho tôm cá. Đối với xử lý môi trường, vi sinh vật hữu ích thường được sử dụng bao gồm một số loài:

Lactobacillus plantarum, L.acidophillus, L.casei, L.rhamnosus, L.bulgaricus, Bacillus subtilis, B.licheniformis, B. megaterium, B.polymyxa, Actinomycetes, Nitrobacteria, Nitrosomonas…

Hầu hết những loài Bacillus không độc hại đối với động vật, khả năng sinh ra kháng sinh và enzyme.

Enzyme do vi khuẩn Bacillus tiết ra phân hủy rất có hiệu quả các chất như carbonhydrate, chất béo và đạm thành những đơn vị nhỏ hơn.

Giống Bacillus có thể sinh trưởng tốt với nguồn carbon và nitơ thấp. Giống Bacillus cũng có khả năng phân hủy chất hữu cơ tích lũy trong nền đáy ao nuôi tôm.

Các nhóm vi khuẩn tham gia chuyển hóa các chất hữu cơ thành CO2 và nước bao gồm Bacillus, Pseudomonas; nhóm vi khuẩn Nitrosomonas và Nitrobacter chuyển các chất độc hại như NH3, NO2-  thành các chất không độc, như NO3-.

Chúng còn được sử dụng trộn vào thức ăn (được tổng hợp có thể khác với dạng bổ sung vào môi trường nước), khi vào cơ thể tôm để hạn chế vi khuẩn có hại trong đường ruột, giúp chuyển hoá thức ăn và khống chế vi khuẩn gây bệnh.

Sử dụng men vi sinh đúng cách cho hiệu quả cao trong nuôi tôm

Nâng cao hiệu quả sử dụng

Mỗi sản phẩm đều có hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất, người sử dụng nên hiểu rõ bản chất, quan tâm một số vấn đề để tăng hiệu quả sử dụng. Tùy theo thành phần chế phẩm vi sinh mà hoạt động sống, sinh sản có ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường (nhiệt độ, độ mặn, ánh sáng, hóa chất, kháng sinh…).

Nồng độ muối thích hợp tùy thuộc giống vi khuẩn, giống Bacillus có thể 0 – 40‰; do đó, vi khuẩn này có khả năng phân bố rộng và chiếm ưu thế. Nhiệt độ trong ao nuôi cũng ảnh hưởng đến hoạt động của vi khuẩn và tốc độ phân hủy hữu cơ

. Nhiệt độ càng cao (trong khoảng thích hợp) thì tốc độ phân hủy càng nhanh, nhiệt độ 25 – 30oC là thích hợp cho sự phát triển của hầu hết các nhóm vi sinh vật, nếu nhiệt độ ở 18oC vào mùa đông thì tỷ lệ sinh trưởng bị giảm 50%.

Nitrosomonas và Nitrobacter là vi khuẩn mẫn cảm ánh sáng. Khoảng pH thích hợp cho Nitrosomonas là 7,8 – 8, Nitrobacter là 7,3 – 7,5. Nitrobacter sẽ tăng trưởng chậm hơn ở các mức pH cao đặc trưng ao nuôi giai đoạn cuối. Nitrosomonas sống ở nơi có hàm lượng NH3 tương đối cao (như trong bùn đáy ao).

Trong nước, có thể tồn tại trong khoảng thời gian ngắn ở các điều kiện bất lợi, nhờ dùng các vật chất dự trữ bên trong tế bào và khi các vật chất này cạn kiệt chúng sẽ chết.

Đa số các nhóm vi sinh vật này đều ảnh hưởng dễ thấy là có sự thay đổi yếu tố pH, ôxy hòa tan (theo xu hướng giảm) trong môi trường nước khi chúng bắt đầu có tác dụng.

Các chất ôxy hóa mạnh như BKC, thuốc tím, Chlorine, Iodine… và kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn làm giảm hiệu quả của chế phẩm vi sinh vật hữu ích.

Do đó, không dùng các loại hóa chất này sau khi đã sử dụng chế phẩm vi sinh vật hữu ích.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/su-dung-hieu-qua-men-vi-sinh-trong-nuoi-tom-36690.html

Giải pháp phòng chống hội chứng tôm chết sớm (EMS)

Tại hội thảo này, các nghiên cứu của các nhà khoa học cũng như doanh nghiệp đã được đưa ra để giúp cơ quan quản lý, đặc biệt là ND Việt Nam có biện pháp hạn chế thiệt hại trong nuôi tôm do EMS trong thời gian tới.

Giải pháp phòng chống hội chứng tôm chết sớm (EMS)

Những kết quả nghiên cứu bước đầu

Theo kết quả thực nghiệm của giáo sư Donald Lightner – Đại học Arizona (Hoa Kỳ) và Trung tâm Thử nghiệm của Tập đoàn CP (Thái Lan), mầm bệnh Vibrio parahaemolyticus gây EMS phát triển rất nhanh nên có khả năng cạnh tranh mạnh với các vi khuẩn khác.

Khi ao nuôi được tẩy trùng bằng Chlorine trước khi thả tôm giống, vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus có thể phục hồi nhanh hơn nhiều so với các vi khuẩn cạnh tranh có lợi.

Do đó, nếu không sử dụng kịp thời vi khuẩn có lợi (men tiêu hóa, mem vi sinh) để khôi phục tính đa dạng của cộng đồng vi khuẩn, Vibrio parahaemolyticus có xu hướng xâm lấn tới bề mặt.

Vi khuẩn này được tìm thấy ở đáy ao và sản xuất ra chất độc cực mạnh.

Kinh nghiệm từ người nuôi tôm cho thấy, khi tôm nuôi có dấu hiệu bị bệnh gan tụy nên hạn chế cho ăn hoặc giảm lượng thức ăn sẽ giảm được tỷ lệ chết của tôm.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, EMS ít khi xảy ra ở độ mặn thấp, với độ mặn dưới 5/1000, EMS không phải là một vấn đề, do đó các trại nuôi may mắn nằm gần nguồn nước ngọt dường như không gặp vấn đề với bệnh EMS. Với độ mặn trên 5/1000, EMS sẽ là vấn đề cần đặc biệt chú ý, nhất là khi nước ao nuôi có độ mặn trên 10/1000, bởi khi đó EMS sẽ có tác động mạnh nhất.

Khuẩn gây bệnh EMS ưa phát triển ở môi trường đáy ao nên tôm nuôi trong lồng đặt cách xa đáy ao có ít nguy cơ bị nhiễm EMS hơn.

Giải pháp hạn chế thiệt hại do EMS

Qua thống kê cho thấy, nuôi tôm cỡ lớn dường như ít bị bệnh EMS hơn so với tôm cỡ nhỏ.

Do đó, một trong những kỹ thuật là ương nuôi tôm giống trong các bể xi măng hoặc composite, từ 10-25 ngày bằng nguồn nước ao nuôi trước khi thả tôm vào nuôi trong ao. Điều này sẽ giảm thiệt hại nếu như tôm giống bị chết, người nuôi tôm không mất công xả ao và cải tạo lại ao.

Kinh nghiệm từ người nuôi tôm cho thấy, khi tôm nuôi có dấu hiệu bị bệnh gan tụy nên hạn chế cho ăn hoặc giảm lượng thức ăn sẽ giảm được tỷ lệ chết của tôm.

Phương pháp phòng bệnh EMS được các nhà khoa học quan tâm đó là nuôi ghép tôm với một số đối tượng thủy sản khác, chẳng hạn như cá rô phi. Tại Malaysia, một số người nuôi tôm đã hạn chế được thiệt hại do EMS bằng cách sử dụng nước từ ao nuôi cá măng biển và cá rô phi bơm sang ao nuôi tôm.

Theo tiến sĩ Donald Lightner, nuôi ghép tôm với các đối tượng thủy sản khác có mức độ an toàn dịch bệnh cao hơn hẳn so với nuôi tôm độc canh.

Các đối tượng thủy sản này sẽ tiêu diệt các loài thiên địch có hại để bảo vệ sự cân bằng tự nhiên vốn có, đồng nghĩa các loại vi khuẩn có hại cho tôm sẽ bị tiêu diệt và tôm không ăn phải những loài vi khuẩn này nên ít bị nhiễm bệnh.

Tuy nhiên, giải pháp nuôi ghép vướng phải vấn đề tôm nuôi bị các đối tượng thủy sản khác ăn nếu nuôi không đúng kỹ thuật và đạt năng suất thấp so với nuôi tôm đơn canh nên đây cũng chỉ là giải pháp tạm thời.

Việc sử dụng công nghệ sinh học biofloc để đa dạng hóa quần thể sinh vật trong các ao nuôi tôm cũng được quan tâm rất nhiều.

Tuy chưa có các nghiên cứu giám sát về phương pháp này nhưng trong khuôn khổ nhóm công tác của Ngân hàng Thế giới/Quỹ Nuôi trồng thủy sản có trách nhiệm cho thấy nhiều mô hình áp dụng công nghệ Biofloc giúp tôm ít bị nhiễm EMS hơn.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/giai-phap-phong-chong-hoi-chung-tom-chet-som-ems-36696.html

Một số khái niệm về vi khuẩn có lợi (probiotic)

Moriarty (1996a, 1998) đã mở rộng định nghĩa này cho nuôi trồng thủy sản bao gồm việc đưa các loài vi khuẩn tự nhiên vào bể / ao nuôi động vật thủy sản.

Một số khái niệm về vi khuẩn có lợi (probiotic)

Vi khuẩn có lợi (probiotic) cải thiện sức khỏe của tôm hoặc cá bằng cách kiểm soát các loài vi khuẩn gây bệnh và cải thiện chất lượng nước bằng cách thay đổi thành phần nhóm vi khuẩn trong nước và trầm tích (bùn) đáy ao.

Vi khuẩn có lợi (probiotic) đi vào đường ruột hoặc bám vào bề mặt ngoài của động vật hoặc trực tiếp từ nước hoặc qua việc bám dính đầu tiên vào thức ăn hoặc các mảnh vụn thức ăn khác đã ăn vào.

Do đó, chúng được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản để làm chất xử lý chất lượng nước và đáy ao cũng như làm thức ăn bổ sung.

Khi chúng tôi bắt đầu sử dụng chế phẩm sinh học (probiotic) trong các trại nuôi tôm thương phẩm thì các sản phẩm sẵn có đều dùng giống trọng yếu là vi khuẩn Bacillus ở định lượng thấp.

Trước khi sử dụng, người nuôi phải ủ chúng với một môi trường dinh dưỡng để sản sinh ra một lượng vi khuẩn đủ cao rồi mới đưa vào trong ao nuôi để có tác dụng tốt (Moriarty 1996, 1996 b, 1998).

Hiện nay chúng tôi có thể sản xuất các chủng vi khuẩn Bacillus thuần khiết với chi phí thấp và bán ra thị trường dưới dạng bột gồm hỗn hợp các bào tử có thời hạn sử dụng dài. Sử dụng các loại bột đơn giản hơn cho người nuôi.

Nhiều người nuôi tôm và cá thường nghĩ chế phẩm sinh học (men vi sinh, men tiêu hóa) là các loại thuốc như là thuốc kháng sinh. Họ mong đợi một tác dụng nhanh chóng và quyết định.

Họ bị nản lòng khi mà kết quả sử dụng chế phẩm sinh học (men vi sinh, men tiêu hóa) không phải ngay tức thì và không có tác dụng mạnh.

“Sự thay đổi của một nhóm vi khuẩn cần có thời gian. Đó là một quá trình liên tục cần phải bổ sung các chủng vi khuẩn có lợi trong suốt vụ nuôi”.

Các loài vi khuẩn đưa vào sử dụng phải được lựa chọn theo các chức năng cụ thể, ở một mật độ quần thể đủ cao và trong các điều kiện môi trường thích hợp để có hiệu quả.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/mot-so-khai-niem-ve-vi-khuan-co-loi-probiotic-36703.html

Nuôi ghép cá rô phi với tôm có thể nâng cao chất lượng nước và kiểm soát vi khuẩn gây bệnh AHPND/EMS

Trong đó, nuôi ghép tôm với cá rô phi có nhiều lợi ích trong việc kiểm soát nhóm vi khuẩn Vibriogây bệnh phát sáng trên tôm như V. harveyi. Nguyên nhân gây bệnh EMS được xác định thuộc nhóm vi khuẩn Vibrio có tên là V. paraheamolyticus có quan hệ gần gũi với vi khuẩn V. harveyi, do đó nuôi ghép tôm với cá rô phi cũng có thể mang lại lợi ích tương tự trong việc kiểm soát mầm bệnh này.

Nuôi ghép cá rô phi với tôm có thể nâng cao chất lượng nước và kiểm soát vi khuẩn gây bệnh AHPND/EMS

Các nghiên cứu tại vùng nuôi tôm ở Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi EMS cho thấy, các ao nuôi ghép với cá rô phi thường cho tỷ lệ sống của tôm cao hơn.

Tuy nhiên, cần thiết phải có những nghiên cứu tiêu chuẩn ở trong phòng thí nghiệm để xác định hiệu quả của cách tiếp cận này trong việc kiểm soát bệnh AHPND/EMS.

Hình 1: Tôm sau 10 ngày gây cảm nhiễm vi khuẩn V. parahaemolyticus, tôm A1, A2, C2, B1 và B2 có dạ dày, ruột giữa và gan tụy bình thường. Tôm còn lại có dấu hiệu của EMS: dạ dày không có thức ăn, gan tụy có màu nhợt nhạt, ruột không có thức ăn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại trường Đại học Arizona để xác định ảnh hưởng của nuôi ghép cá rô phi với việc kiểm soát bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND) do Vibrio parahaemolyticus và tỷ lệ chết trên tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương, Litopenaeus vannamei. Thí nghiệm bao gồm 5 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được tiến hành với 3 lần lặp lại.

– Nghiệm thức A: là nghiệm thức đối chứng âm, bể nuôi được chuẩn bị 14 ngày trước khi thả tôm nuôi và không có thả cá rô phi.

– Nghiệm thức B: bể nuôi được thả cá rô phi 14 ngày, sau đó bắt cá ra và thả tôm thí nghiệm vào nuôi, tiếp theo gây cảm nhiễm với vi khuẩn gây bệnh.

– Nghiệm thức C: bể nuôi được chuẩn bị với cá rô phi trong 14 ngày, sau đó cá rô phi được thả trong các lồng và các lồng được đặt trong bể nuôi, tiếp sau đó là gây cảm nhiễm với vi khuẩn V. parahaemolyticus.

– Nghiệm thức D: bể nuôi được chuẩn bị trước 14 ngày, không thả cá rô phi sau đó gây cảm nhiễm.

– Nghiệm thức E: là nghiệm thức đối chứng dương với bể nuôi chứa nước sạch có độ mặn 20 ppt được chuẩn bị 1 ngày trước khi thả tôm, sau đó tôm được gây cảm nhiễm với vi khuẩn gây bệnh.

Thí nghiệm gây cảm nhiễm được tiến hành trong 10 ngày với dung dịch vi khuẩn V. parahaemolyticus có nồng độ 3×10^5 tế bào/mL nước bể nuôi.

Kết quả thí nghiệm

Các bể nuôi được chuẩn bị trước đó 14 ngày đã sinh tảo trong bể và thiết lập một quần thể sinh vật cân bằng gần giống với môi trường ao nuôi, mật độ vi khuẩn trong các nghiệm thức A, B, C và D không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Tuy nhiên, mật độ vi khuẩn ở các nghiêm thức này cao hơn 3 log so với nghiêm thức đối chứng dương.

Thí nghiệm gây cảm nhiễm trong 10 ngày cho thấy có sự khác nhau về tỷ lệ sống của tôm ở các nghiệm thức theo tứ tự như sau: 97.78%; 91.11%; 6.67%; 20% và 0%.

Tôm có tỷ lệ sống cao ở nghiệm thức A cho thấy điều kiện thí nghiệm phù hợp cho tôm sinh sống (Hình 2).

Hình 2: Tỷ lệ sống của tôm ở các nghiệm thức sau khi gây cảm nhiễm vi khuẩn

Trong khi đó, tỷ lệ sống 0% ở nghiệm thức đối chứng dương cho thấy vi khuẩn dùng trong thí nghiệm này có độc lực rất cao.

Mặc dù mầm bệnh vi khuẩn gây nên EMS được phân lập trong nước và tôm thí nghiệm ở các nghiệm thức gây cảm nhiễm, nhưng kết quả phân tích mô bệnh học cho thấy có sự tương quan giữa tỷ lệ chết của tôm và mức độ tổn thương trên mẫu mô phân tích.

Mật số vi khuẩn trong nước ở các nghiệm thức B, C và D giảm thấp có ý nghĩa so với mật số vi khuẩn ban đầu khi dùng gây cảm nhiễm.

Ngược lại, mật số vi khuẩn ở nghiệm thức đối chứng dương có sự phát triển bùng nổ, cao hơn rất nhiều so với mật số vi khuẩn dùng để gây cảm nhiễm. Điều này cho thấy, cộng đồng sinh vật trong nước có thể tương tác với vi khuẩn gây bệnh.

Thảo luận

Bệnh do nhóm vi khuẩn phát sáng Vibrio gây thiệt hại nghiêm trọng trong ngành nuôi tôm. Một ứng dụng của công nghệ nước xanh (green water technology) từ việc nuôi kết hợp cá rô phi trong nuôi tôm sú đã cho thấy hiệu quả trong việc kiểm soát mầm bệnh vi khuẩn Vibrio gây bệnh phát sáng.

Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy các dòng vi khuẩn và tảo trong hệ thống nước xanh có thể ức chế sự phát triển của vi khuẩn V. harveyi.

Nhận định

Đây là nghiên cứu bước đầu chứng minh rằng các sinh vật bản địa hình thành bởi việc nuôi ghép cá rô phi hoặc có sự chuẩn bị bể trong một thời gian nhất định trước khi thả tôm có thể làm giảm tỷ lệ chết của tôm trong thí nghiệm cảm nhiễm với vi khuẩn gây bệnh EMS.

Tuy nhiên, nếu như tảo bị tàn làm cho môi trường có nhiều dinh dưỡng hơn có thể là nguyên nhân làm tăng mật độ vi khuẩn gây bệnh EMS trở lại.

Ngoài ra, khi không có các sinh vật cạnh tranh trong nước vi khuẩn V. parahaemolyticus có thể gia tăng nhanh mật số và có thể gây bệnh.

Kết quả nghiên cứu này góp phần giải thích cho việc AHPND/EMS thường xuất hiện trong những ao nuôi tôm không có tảo (nước trong) hoặc sau khi tảo tàn (nở hoa).

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nuoi-ghep-ca-ro-phi-voi-tom-co-the-nang-cao-chat-luong-nuoc-va-kiem-soat-vi-khuan-gay-benh-ahpnd-ems-36710.html

Quản lý môi trường ao nuôi và sức khỏe tôm giai đoạn chuyển mùa

Bên cạnh đó, sau những cơn mưa thường xuất hiện nắng nóng gay gắt làm tôm giảm sức đề kháng từ đó làm tăng nguy cơ bùng phát mầm bệnh gây thiệt hại cho tôm nuôi.

Quản lý môi trường ao nuôi và sức khỏe tôm giai đoạn chuyển mùa

Để hạn chế những tác động xấu do biến động thời tiết giai đoạn đầu mùa mưa, bà con nuôi tôm cần áp dụng các biện pháp sau đây để ổn định môi trường ao nuôi và tăng sức đề kháng cho tôm:

– Quản lý pH:

pH là yếu tố dễ biến động nhất sau những cơn mưa lớn, sự biến động đột ngột của pH có thể làm tôm giảm sức đề kháng.

Vì vậy, bà con nên kiểm tra pH cứ 2 giờ một lần trong lúc trời mưa và ngay sau khi mưa để điều chỉnh kịp thời. Duy trì pH ở mức thích hợp từ 7,5 – 8,5 và dao động giữa sáng và chiều không quá 0,5 đơn vị.

Nếu pH thấp, bà con sử dụng vôi nông nghiệp CaCO3 (bà con thường gọi là vôi canxi) liều lượng từ 10 – 20 kg/1000m3 nước ao tùy giá trị pH đo được.

Ngoài ra, để hạn chế phèn trên bờ ao rửa xuống ao khi mưa làm giảm pH và đục nước, bà con nên sử dụng vôi đá sống CaO rải đều trên bờ ao. Vôi sẽ giúp trung hòa acid tránh giảm pH đột ngột và giúp nước ao không bị đục sau khi mưa.

– Quản lý độ kiềm:

Mùa mưa là thời điểm độ kiềm trong ao tụt giảm làm ảnh hưởng đến quá trình lột xác của tôm, làm tôm chậm lớn, giảm tỷ lệ sống hay thường gặp hiện tượng tôm bị mềm vỏ kéo dài do độ kiềm dưới mức thích hợp đặc biệt đối với vùng nuôi có độ mặn thấp hay nuôi tôm trong ruộng lúa.

Độ kiềm thích hợp cho tôm sú từ 80 – 140 mg/l và 120 -150 mg/l đối với tôm thẻ. Nếu độ kiềm thấp có thể sử dụng vôi Dolomite liều lượng 20 – 30 kg/1000m3 hoặc sử dụng vôi canxi nếu pH thấp.

– Quản lý mực nước:

Đối với những ao có mực nước thấp chất lượng nước sẽ biến động lớn sau những cơn mưa hoặc khi trời nắng nóng gay gắt.

Vì vậy, cần duy trì mực nước tối thiểu là 1,3m đối với ao nuôi tôm sú và 1,5m đối với ao nuôi tôm thẻ.

Ngoài ra, biện pháp tăng cường quạt nước trong khi mưa lớn hay khi trời nắng gắt sẽ giúp xáo trộn nước tránh hiện tượng phân tầng trong ao từ đó hạn chế những tác động xấu cho tôm nuôi.

– Kiểm soát tảo:

Đối với những ao nuôi 2,5 tháng trở lên, sau khi trời mưa liên tục vài ngày, mật độ tảo thường tăng cao.

Nguyên nhân chủ yếu thường là cho ăn thừa trong những ngày mưa.

Một trong những biện pháp kiểm soát hữu hiệu lượng chất thải cũng như mật độ tảo trong ao là giảm khoảng 20 – 30% lượng thức ăn khi trời mưa bởi vì nhiệt độ thấp tôm sẽ giảm bắt mồi.

Hơn nữa, để tránh thất thoát thức ăn trong những ngày trời âm u thì nên bắt đầu cho tôm ăn trễ hơn khi mặt trời mọc, lúc đó tảo bắt đầu quang hợp đảm bảo đủ oxy hòa tan để tôm bắt mồi và tiêu hóa thức ăn.

Ngoài ra, bà con có thể sử dụng mật đường riêng lẻ hoặc kết hợp với men vi sinh với liều lượng 2 – 3 kg/100m3 định kỳ 5 – 7 ngày kết hợp tăng cường chạy quạt cung cấp oxy cũng là giải pháp kích thích vi khuẩn có lợi trong ao phát triển tăng cường phân hủy các chất hữu cơ, hạn chế tảo phát triển quá mức.

– Hạn chế mầm bệnh trong ao:

Bằng cách diệt khuẩn nước ao, trong những trường hợp cần thiết như màu sắc tôm thay đổi xấu, tôm đóng rong, đóng nhớt, bị phồng đuôi, đứt đuôi, đứt râu.

Đặc biệt sau đợt mưa nhiều ngày vi khuẩn có hại gây bệnh thường bùng phát theo sự tích tụ hữu cơ trong ao.

Do đó, sau khi kết thúc đợt mưa chuyển sang thời tiết nắng cần diệt khuẩn để giảm mật độ vi khuẩn có hại, giảm bớt mầm bệnh và cấy vi sinh lại sau 2 ngày để tăng cường vi khuẩn có lợi cho ao.

Một số chất diệt khuẩn có thể ảnh hưởng đến tảo và sức khỏe tôm vì vậy, bà con cần lưu ý chọn loại diệt khuẩn tương đối an toàn  và phải kiểm tra sức khỏe tôm trước khi sử dụng.

– Quản lý sức khỏe tôm:

Ngoài việc quan sát phản ứng, màu sắc, đường ruột, gan tụy và phân tôm hàng ngày thông qua kiểm tra sàng ăn, bà con cần chài tôm định kỳ 5 – 7 ngày hoặc sau khi ao nuôi có những diễn biến xấu như chất lượng nước xấu hay mưa kéo dài để kiểm tra sức khỏe tôm nhằm có biện pháp xử lý kịp thời khi phát hiện những dấu hiệu bất thường như tôm búng yếu, phân lỏng, đường ruột đứt khút, gan tụy mờ nhạt,…

Bên cạnh đó, bà con cần tăng cường sức đề kháng cho tôm trong giai đoạn thời tiết bất lợi bằng cách tăng cường (tức là trộn vào thức ăn với liều lượng cao hơn thông thường) các chất bổ sung như Vitamin C, khoáng, vi sinh đường ruột (men tiêu hóa), chất bổ gan, chất tăng đề kháng beta-glucan để tăng sức chống chịu cho tôm nuôi.

Trên đây là một số giải pháp kỹ thuật nhằm quản lý môi trường ao nuôi tôm trong điều kiện thời tiết chuyển mùa vào mùa mưa.

Hy vọng với những biện pháp vừa nêu trên kết hợp với kinh nghiệm và quan sát tại ao nuôi bà con nuôi tôm sẽ có những cách xử lý kịp thời nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng xấu đến tôm nuôi và sẽ có vụ mùa thành công.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/quan-ly-moi-truong-ao-nuoi-va-suc-khoe-tom-giai-doan-chuyen-mua-36717.html

Loài nuôi, quy mô ao nuôi xác định phương pháp sục khí

Lượng mức sục khí có thể tăng lên khi mức độ cho ăn tăng để duy trì năng lượng. Trong ao nuôi tôm thường có thể giảm sục khí từ giữa buổi sáng đến xế chiều.

Loài nuôi, quy mô ao nuôi xác định phương pháp sục khí

Nghiên cứu đã chứng minh có thể tiết kiệm năng lượng đáng kể bằng cách sử dụng hệ thống sục khí tự động.

Tiến sĩ Claude E. Boyd, Trường Thủy sản, Nuôi trồng Thủy sản và Khoa học Thủy sản

Đại học Auburn, Auburn, Alabama 36830, Hoa Kỳ

Người nuôi tôm bây giờ có xu hướng lắp đặt sục khí quạt guồng tương xứng đều khắp bề mặt ao để đẩy cặn lắng lan đều hơn ở đáy ao.

Ao nuôi trồng thủy sản ngày càng chuyển đổi sang thâm canh, do vậy sử dụng thức ăn nhiều hơn và sục khí cơ học là cách thực hành phổ biến.

Có nhiều loại hệ thống sục khí trong ao, nhưng hầu hết hoạt động theo một trong hai nguyên tắc.

Với sục khí “tóe nước”, nước văng vào không khí để tăng diện tích tiếp xúc giữa nước và không khí làm khuếch tán oxy từ không khí vào nước.

Ngoài ra, các bong bóng khí có thể thoát vào trong nước từ máy khuếch tán đặt gần đáy ao. Với sục khí “bọt”, những bong bóng nhỏ nổi lên qua các cột nước, tạo ra một vùng bề mặt rộng cho sự khuếch tán oxy từ không khí bên trong các bong bóng vào trong nước.

Cũng có những nỗ lực để phát triển hệ thống tiếp xúc oxy tinh khiết dùng cho ao, nhưng chưa sẵn có các thiết bị ưng ý.

Các loại sục khí

Các loại sục khí tóe nước phổ biến là bơm thẳng đứng (sục khí tuabin) và sục khí quạt guồng. Sục khí bơm cánh quạt-khuếch tán dựa trên nguyên tắc venturi để đưa các bong bóng không khí vào nước.

Hệ thống sục khí khuếch tán không khí bao gồm một máy thổi không khí được nối bằng ống đến một mạng lưới khuếch tán trên đáy ao nhả bong bóng không khí nhỏ vào nước.

Tất cả các loại sục khí này đã được sử dụng thành công trong nuôi trồng thủy sản, nhưng mỗi loại có một số ưu và nhược điểm nhất định thích hợp với một số ứng dụng này hơn là các ứng dụng khác.

Các loại sục khí bơm thẳng đứng không giúp nước lưu thông tốt và phù hợp nhất cho các ao diện tích nhỏ 0,25 ha hoặc nhỏ hơn.

Sục khí quạt guồng đặc biệt rất thích hợp cho các ao lớn hơn do tạo dòng chảy mạnh, tuy nhiên cũng có thể sử dụng một cách hiệu quả các loại sục khí quạt guồng nhỏ hơn trong các ao nhỏ như là 0,1 ha.

Độ sâu không phải là yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu suất của sục khí bơm thẳng đứng và quạt guồng, nhưng tốt nhất sử dụng trong ao có độ sâu nói chung vào khoảng 0,75 và 2,00 m.

Có thể sử dụng các loại sục khí bơm cánh quạt-khuếch tán ở đa dạng kích cỡ ao. Trong ao nông dưới 0,75 m, tuy nhiên có thể gây ra xói mòn ở đáy ao.

Các loại này có khả năng tạo ra sự lưu thông nước sâu trong các ao có độ sâu hơn 2,00 m. Sự kết hợp giữa sục khí quạt guồng và sục khí bơm cánh quạt-khuếch tán có thể hiệu quả nhất trong trộn nước ao, đặc biệt là ở các ao sâu.

Các hệ thống khuếch tán không khí có nhược điểm là hiệu suất kém ở các ao nước nông, vì thời gian lơ lửng của bong bóng trong nước quá ngắn nên khuếch tán ít oxy vào trong nước.

Hơn nữa, các hệ thống này không phù hợp cho các ao nuôi lớn bởi vì chiều dài ống quá dài và sử dụng nhiều ống khuếch tán. Các hệ thống khuếch tán không khí thích hợp nhất cho các ao rộng 0,25 ha hoặc nhỏ hơn.

Những loại sục khí này đặc biệt hợp lý với các cụm liên kết các ao nhỏ trong đó một máy thổi khí có thể cung cấp không khí đến các ống khuếch tán ở nhiều ao.

Một số nhà sản xuất đặt hệ thống khuếch tán không khí ở phía trước sục khí quạt guồng. Trong ao điển hình, nước quá nông để tạo sự vận chuyển ôxy hiệu quả bằng sục khí khuếch tán không khí.

Theo ý kiến ​​của tác giả có thể hiệu quả hơn là đơn giản đầu tư dùng nhiều sục khí quạt guồng hơn là lắp đặt các hệ thống khuếch tán không khí để hỗ trợ sục khí quạt guồng.

Cũng có thể sử dụng một số loại máy bơm thổi khí trong ao nuôi thủy sản. Dù tạo được lưu thông cột nước theo chiều dọc thì các loại máy này không phải là sục khí thực sự.

Các bong bóng nổi lên trong ống thổi khí cung cấp thêm oxy, nhưng lượng oxy vận chuyển tính trên một đơn vị năng lượng ít hơn nhiều so với các loại sục khí tiêu chuẩn.

Hiệu suất vận chuyển oxy

Hiệu suất vận chuyển oxy của các loại sục khí cơ học trong các ao khác nhau trong ngày liên quan đến nồng độ oxy hòa tan.

Nồng độ oxy hòa tan thường thấp nhất lúc sắp bình minh, tăng lên trong ngày đến đỉnh điểm vào giữa buổi chiều và sau đó giảm vào ban đêm.

Sục khí hữu hiệu nhất trong việc chuyển oxy vào nước khi không có oxy hòa tan và giảm hiệu suất khi nồng độ oxy hòa tan tăng lên.

Khi nước đã bão hòa với oxy hòa tan, sục khí làm ngừng chuyển oxy vào nước. Khi nước quá bão hòa với oxy hòa tan – thường xảy ra vào buổi chiều – sục khí làm tăng tốc độ khuếch tán oxy từ nước vào không khí.

Nồng độ oxy hòa tan tối thiểu có thể chấp nhận được đối với các ao nuôi trồng thủy sản trước kia là 2 mg/L cho hầu hết các loài nước ấm.

Tuy nhiên, dựa trên kinh nghiệm và các kết quả nghiên cứu, quan điểm này đã thay đổi. Ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu cảm thấy rằng nồng độ oxy hòa tan trong các ao nước ấm không nên giảm xuống dưới 4 mg/L.

Vi khuẩn nitrat hóa không hoạt động tốt khi nồng độ oxy hòa tan giảm xuống 2 hoặc 3 mg/L theo chuẩn hàng ngày. Do đó, việc duy trì nồng độ oxy hòa tan trên 4 mg/L cũng thúc đẩy quá trình oxy hóa nitơ amoniac có khả năng gây độc thành nitrat tương đối vô hại.

Sục khí và hệ sinh vật ao

Hầu hết các nhà sản xuất có xu hướng coi sục khí là một phương tiện cung cấp thêm oxy cho quá trình hô hấp của các loài nuôi để có thể tăng năng suất vụ chưa thu hoạch.

Đúng là vậy nhưng sục khí cũng cung cấp oxy cho vi sinh vật sử dụng để phân hủy thức ăn thừa, phân và sinh vật phù du chết. Sinh vật phù du sống cũng sử dụng oxy cho hô hấp.

Dù các thành phần tảo của sinh vật phù du tạo ra nhiều ôxy qua quá trình quang hợp hơn là sử dụng oxy trong hô hấp ban ngày nhưng tảo tiếp tục hô hấp vào ban đêm. Ngược lại, sự sản xuất oxy ngừng lại trong quá trình quang hợp tối.

Có rất nhiều sự cạnh tranh giữa vi sinh vật và các loài nuôi đối với oxy hòa tan được đưa vào nước nhờ sục khí. Cuộc cạnh tranh này không thay đổi nhiều liên quan đến mật độ nuôi trong ao nước xanh, bởi vì lượng chất thải hữu cơ và sinh vật phù du có xu hướng tăng tỷ lệ thuận với sự gia tăng mức độ cho ăn.

Sục khí và thức ăn thủy sản

Căn cứ nhu cầu oxy sinh hóa của thức ăn (khoảng 1,2 kg oxy/kg thức ăn) và hiệu suất vận chuyển oxy trung bình của các loại sục khí, cần sục khí khoảng 1 hp cho mỗi 10 kg/ha thức ăn tăng thêm hàng ngày đưa vào ao để duy trì nồng độ oxy hòa tan vào ban đêm trên 4 mg/L.

Hầu hết các ao có thể duy trì vụ nuôi chưa thu hoạch một cách an toàn là 1.000 kg/ha không có sục khí, tương ứng lượng thức ăn đầu vào hàng ngày là khoảng 30 kg/ha ở hầu hết các ao.

Vì vậy, nếu mục tiêu để sản xuất 6.000 kg/ha (180 kg thức ăn/ha/ngày ở đầu vào 3% trọng lượng thân / ngày), hiệu suất sục khí ở cuối vụ nên vào khoảng 15 hp/ha.

Tất nhiên, nếu mong muốn một hệ số an toàn thì sục khí vào cuối vụ có thể căn cứ trên toàn bộ lượng thức ăn đầu vào là ở mức 18 hp/ha. Lượng mức sục khí có thể tăng khi mức độ cho ăn tăng để bảo toàn năng lượng hơn là sử dụng toàn bộ lượng mức sục khí trong suốt thời gian nuôi.

Trong nuôi cá rô phi có thể chấp nhận nồng độ oxy hòa tan tối thiểu thấp hơn 2 hoặc 3 mg/L.

Hình thức nuôi này giảm lượng mức sục khí cần có cho mỗi 10 kg/ha thức ăn tăng thêm tương ứng với 0,5 hp hoặc 0,75 hp.

Trong nuôi cá thường có thể cho phép tắt sục khí giữa buổi sáng và không mở lại cho đến đầu chiều tối.

Tôm sống dưới đáy ao – nơi mà nồng độ oxy hòa tan thấp nhất và sự chuyển động của nước có oxy ngang qua đáy ao rất có lợi. Tuy nhiên, thường có thể giảm lượng mức sục khí trong ao nuôi tôm từ giữa buổi sáng đến đầu chiều tối.

Bố trí sục khí

Người nuôi thường xuyên hỏi về những cách tốt nhất để xác định vị trí lắp đặt sục khí trong ao và rõ ràng không có kết quả nghiên cứu cuối cùng để cho một câu trả lời có thể biện minh được.

Trong các ao cá có thể chấp nhận đặt một hoặc nhiều sục khí lớn ở một đầu ao, bởi vì cá sẽ di chuyển vào vùng nước có oxy.

Nếu ao hình chữ nhật, sục khí nên đưa dòng nước dọc theo trục dài của ao. Tôm không di chuyển đến vùng nước có oxy như là cá, vì vậy cách hợp lý là sử dụng nhiều sục khí nhỏ để cung cấp sự thông khí tương đối đều khắp toàn bộ diện tích ao.

Các hệ thống khuếch tán không khí thích hợp nhất cho các ao / bể nhỏ đủ sâu để cho oxy khuếch tán từ các bong bóng không khí nổi lên vào trong nước.

Trước kia, sục khí được bố trí trong các ao nuôi tôm để tạo một dòng chảy vòng tròn, nhưng kiểu này thường tạo cặn lắng ở vùng giữa ao.

Người nuôi tôm bây giờ có xu hướng lắp đặt sục khí tương đối đều khắp bề mặt ao để bùn cặn lắng lan đều hơn trên đáy.

Cho dù áp dụng mô hình lắp đặt sục khí nào thì đều cần phải chú ý giữ cho dòng nước mạnh không làm xói mòn bờ và tăng cặn lắng đọng trên đáy ao.

Theo dõi oxy hòa tan

Thực hiện đo oxy hòa tan thường xuyên trong ao có sục khí để đảm bảo đủ lượng mức sục khí nhằm tránh nồng độ thấp không mong muốn.

Có thể sử dụng các hệ thống tự động để tắt và mở sục khí tùy theo điểm đặt oxy hòa tan cao hơn và thấp hơn. Lợi ích thứ hai của bộ điều khiển sục khí là có thể lưu lại nồng độ oxy hòa tan theo thời gian.

Nghiên cứu đã chứng minh có thể tiết kiệm năng lượng đáng kể bằng cách sử dụng hệ thống sục khí tự động.

Chi phí của các bộ điều khiển này đã giảm xuống và độ tin cậy tăng lên trong những năm gần đây. Tại Mỹ, rất nhiều người nuôi cá da trơn đã chấp nhận sử dụng hệ thống sục khí tự động.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/loai-nuoi-quy-mo-ao-nuoi-xac-dinh-phuong-phap-suc-khi-36724.html

Bệnh đốm trắng WSSV

Những yếu tố nguy cơ này xảy ra suốt vụ nuôi tôm và ở những điều kiện chung rơi vào các nhóm sau đây trong các giai đoạn khác nhau của vụ nuôi:

Bệnh đốm trắng WSSV

• mùa vụ thả;

• chuẩn bị ao nuôi;

• chuẩn bị nước và lấy nước vào ao;

• chất lượng con giống và sàng lọc;

• quản lý nước;

• quản lý đáy ao;

• quản lý thức ăn;

• điều trị bệnh.

Các yếu tố nguy cơ ở từng giai đoạn vụ nuôi và mối liên quan làm bùng phát dịch bệnh đốm trắng được minh họa ở “mạng lưới các nguyên nhân gây bệnh” dưới đây.

Sau đây tóm tắt các điểm chính:

• Một ổ dịch bệnh đốm trắng bùng phát là kết quả cuối cùng của một loạt các tác động hoặc thay đổi từ lúc tôm khỏe mạnh đến khi bùng phát dịch bệnh.

• Ở mỗi thời kỳ của vụ nuôi, một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển bệnh ở từng cá thể cũng như quần thể tôm trong mỗi ao.

• WSSV có thể xâm nhập vào tôm và ao nuôi qua nhiều con đường khác nhau kể cả tôm giống, nước, vật mang mầm bệnh và việc chuyển tôm nhiễm bệnh và trang thiết bị từ trang trại này sang trang trại khác.

• Các yếu tố môi trường bất lợi kết hợp với tỷ lệ lây lan tôm nhiễm bệnh cao trong quần thể ao tất yếu xảy ra dịch bệnh bùng phát hàng loạt.

Có thể áp dụng các yếu tố quản lý để kiểm soát các yếu tố môi trường và giảm thiểu nguy cơ của bệnh đốm trắng xảy ra trong ao. Để thành công trong việc kiểm soát bệnh tôm, người nuôi phải quản lý mọi nguy cơ tiềm ẩn ở các giai đoạn khác nhau của vụ nuôi.

Các kết quả từ nghiên cứu yếu tố nguy cơ bệnh tôm cho thấy rõ một số yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến bùng phát dịch bệnh tôm và sản lượng ở cấp độ trong ao nuôi, nhiều yếu tố trong số đó có thể được quản lý ở cấp độ trang trại.

Nghiên cứu yếu tố nguy cơ chứng minh rõ ràng bệnh đốm trắng không phải là do một yếu tố bất kỳ nào mà là một số yếu tố tương tác và ảnh hưởng đến sự xuất hiện bệnh.

Do đó, một phương pháp tiếp cận mở rộng và quản lý tích hợp là cần thiết để đối phó với các yếu tố chính góp phần gây xuất hiện bệnh.

Những phát hiện này cung cấp một cơ sở vững chắc giúp cho người nuôi tôm giảm bớt thiệt hại do bệnh, nâng cao năng lực và kỹ năng trang trại trong quản lý sức khỏe tôm, giảm thiểu những rủi ro lây lan bệnh tôm đến các khu vực khác, nâng cao năng suất và lợi nhuận nuôi tôm (MPEDA/NACA, 2003).

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/benh-dom-trang-wssv-36732.html

Để nuôi tôm thẻ chân trắng thành công không phải nhờ may rủi

TTCT có khả năng nuôi ở mật độ cao, năng suất và hiệu quả.

Để nuôi tôm thẻ chân trắng thành công không phải nhờ may rủi

Tuy nhiên, nghề nuôi tôm đặc biệt rủi ro do thiên tai và dịch bệnh, ngoài việc lựa chọn số vụ và tuân thủ lịch thời vụ, người nuôi nhất thiết phải thực hiện nghiêm ngặt mọi khâu kỹ thuật.

Theo ý kiến của nhiều chuyên gia trong ngành, TTCT dù là đối tượng nuôi mới và có nhiều đặc tính được cho là ưu việt như thời gian nuôi ngắn, sức sống cao, khả năng kháng bệnh tốt… tuy nhiên, người nuôi không được chủ quan.

Bởi như thời gian vừa qua, nhiều người nuôi tôm chủ quan trong việc áp dụng kỹ thuật, nuôi mật độ quá dày (trên 100 con/m2) dẫn đến tôm chậm lớn, tiêu tốn thức ăn, tỷ lệ sống thấp dẫn đến thất bại.

Cùng đó, khi chọn mua giống cần tìm đến những cơ sở sản xuất kinh doanh có uy tín, tránh tôm giống trôi nổi không rõ nguồn gốc, dễ khiến nuôi thất bại.

Cùng nữa, không nên thả nuôi tôm ồ ạt vào cùng một thời điểm, nhằm tránh tạo áp lực cho nguồn cung con giống dễ đẩy giá tôm giống lên quá cao…

Đồng thời, không nên lạm dụng và quá kỳ vọng vào hiệu quả tức thì của một số loại hóa chất hoặc thuốc xử lý môi trường, phòng, trị bệnh nào đó trong quá trình nuôi, mà phải kết hợp với việc giải độc, cân bằng các chỉ tiêu môi trường như pH, ôxy hòa tan… để hạn chế việc lây lan và tái phát dịch bệnh.

Đặc biệt, trong quá trình nuôi cần sử dụng định kỳ các chế phẩm sinh học để quản lý môi trường tốt và ổn định hơn, sản phẩm cuối cùng đảm bảo sạch.

Bên cạnh đó, người nuôi cũng nên chú ý đến mật độ thả, phải đảm bảo phù hợp với mức độ đầu tư cơ sở vật chất, khả năng chăm sóc và kinh nghiệm.

Bài học tại Thái Lan cho thấy, qua nhiều năm nuôi tôm ở mật độ cao đã khiến nền đáy bị chai, nghèo dinh dưỡng, tảo không phát triển, môi trường ao nuôi bị ô nhiễm nghiêm trọng dẫn đến dịch bệnh hoành hành, gây thiệt hại lớn cho ngành tôm.

Để khắc phục, người nuôi tôm nước này đã phải áp dụng giải pháp tạm ngừng nuôi một thời gian nhất định, đồng thời, giảm mật độ thả nuôi.

Theo kinh nghiệm của ông Vũ Văn Đức, người nuôi TTCT từ năm 2006 ở Nghệ An: Nên thả giống ở mật độ dưới 80 con/m2, sau 2 tháng nuôi, khi tôm đạt cỡ thương phẩm (dù còn nhỏ) tiến hành thu tỉa, số còn lại tiếp tục nuôi kết hợp thu tỉa dần để giảm mật độ, có thể kéo dài thời gian nuôi tới 4 tháng, cỡ tôm cuối vụ đạt dưới 40 con/kg, giá bán sẽ cao hơn nhiều.

Hơn nữa, cách làm này rất hiệu quả đối với những hộ không có khả năng đầu tư lớn.

Ngoài ra, cần áp dụng biện pháp phòng bệnh tổng hợp ngay từ khâu lựa chọn con giống, cải tạo ao nuôi đến quá trình chăm sóc… một cách nghiêm ngặt mới giảm thiểu được rủi ro dịch bệnh.

Bởi trong nuôi tôm, việc phòng bệnh đặc biệt quan trọng, hơn nữa, nếu tôm đã mắc bệnh thì có chữa trị được tôm cũng chậm lớn, dẫn đến hiệu quả nuôi thấp, thậm chí thua lỗ, đồng thời, tránh một số bệnh nguy hiểm chưa có thuốc đặc trị làm chết tôm hàng loạt.

Và quan trọng là phải có sự liên kết chặt chẽ với cộng đồng để nâng cao ý thức chung, tránh tình trạng “đèn nhà ai nhà ấy rạng”.

Theo ông Nguyễn Văn Khởi, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Sóc Trăng, nuôi TTCT chắc chắn sẽ gây ra ô nhiễm môi trường do nuôi dày vụ, mật độ cao, sử dụng lượng thức ăn lớn… Mặt khác, phát triển TTCT trên diện rộng sẽ dẫn đến khó khăn về nguồn giống chất lượng, quản lý môi trường nuôi, đầu ra sản phẩm…

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/de-nuoi-tom-the-chan-trang-thanh-cong-khong-phai-nho-may-rui-32529.html