Monthly Archives: June 2017

Chế độ ăn uống hỗn hợp cải thiện hiệu suất ở tôm bố mẹ

Sự quan tâm dành cho việc sinh sản nuôi nhốt của tôm he ngày càng gia tăng trên toàn cầu do nhu cầu cấp thiết về việc thiết lập 1 chương trình gây giống có chọn lọc và sản xuất ra các con giống hậu ấu trùng mạnh khỏe và được chứng nhận. Một chế độ ăn uống tối ưu là một yếu tố rất quan trọng trong sự phát triển cơ quan sinh dục và sự sinh sản của tôm trong hoạt động chăn nuôi. Đầu tư cho thực phẩm chất lượng cao chính là khoản chi phí cao nhất ở hầu hết các cơ sở quản lý nuôi tôm bố mẹ.

Các cơ sở sản xuất tôm giống biển trưởng thành phụ thuộc chủ yếu vào nguồn thức ăn tươi và hay bị bất lợi về mặt vận hành. Thức ăn nhân tạo sấy khô có một số lợi thế như nguồn cung cấp đáng tin cậy, phù hợp, dễ dàng trong việc kiểm soát chất lượng và xử lý. Thức ăn nhân tạo cũng làm giảm mùi từ các bể chứa ấu trùng, ngăn ngừa nguy cơ lây truyền bệnh và cung cấp hiệu quả các chất chemotherapeutics, immunostimulants, và hormone.

Các cuộc thử nghiệm ở Ecuador và New Caledonia chỉ ra rằng sự đồng nhất của thức ăn nhân tạo trong chế độ cho ăn ở tôm bố mẹ có thể cải thiện hiệu suất của chúng ở vài khu vực.

Cách để thử nghiệm chế độ ăn

Một chế độ cho ăn với thức ăn sấy khô, hoàn toàn nằm ngoài danh mục thường ngày được xây dựng để mang lại khẩu phần tối ưu về mùi vị, ổn định và dinh dưỡng cho tôm giống bố mẹ (bảng 1). Chế độ ăn này không chứa protein có nguồn gốc từ thủy sản biển và là nguồn cung cấp liên tục tất cả các chất dinh dưỡng thiết yếu cần cho tôm bố mẹ trưởng thành. Khẩu phần này bao gồm các axit béo không bão hòa cao thuộc nhóm n-3 và 6, phospholipid, cholesterol, carotenoid, vitamin, khoáng chất, Artemia, và mực. Nhờ vào công nghệ ép và chất kết dính phù hợp, thức ăn này có tính ổn định dưới nước cao.

Thử nghiệm trên tôm trưởng thành P. vannamei 

Việc cho ăn được tiến hành dưới các điều kiện thương mại với việc thay thế 1 phần thức ăn tươi trong 1 cuộc thử nghiệm 39 ngày trên tôm giống bố mẹ P. vannamei ở trại ươm giống Quimasaru thuộc Quirola group ở Ecuador. Thí nghiệm sử dụng 16 bể chứa tôm trưởng thành (tám bể mỗi lần thử nghiệm), mỗi bể thả khoảng 80 con tôm đánh bắt tự nhiên với tỷ lệ giới tính 1:1. Tôm có trọng lượng cơ thể trung bình 40g đã được cho thích nghi và cắt bỏ trước khi thả giống. Áp dụng chiếu sáng tự nhiên, tỷ lệ trao đổi nước hằng ngày 50% và nhiệt độ ở mức 29-30 độ C.

Trong giai đoạn 1 kéo dài 19 ngày của cuộc thử nghiệm, tôm trong bể kiểm soát được cho ăn hoàn toàn một hỗn hợp các loại thức ăn tươi sống bao gồm Artemia sinh khối, sò, mực, trùn đất, và đầu tôm. Trái ngược với quan điểm hiện tại, đầu tôm cùng các loại thức ăn tiềm ẩn nguy cơ này được bao gồm trong khẩu phần do không có triệu chứng nổi đốm trắng do vi khuẩn vào thời điểm thử nghiệm. Một nhóm khác được cho ăn một khẩu phần giảm dần các loại thức ăn tươi sống kết hợp với các thức ăn khô dạng viên. Nhìn chung, tỷ lệ thay thế cho thức ăn tươi là khoảng 50% đối với thức ăn khô nhưng áp dụng loại thức ăn tươi khác nhau trong bể kiểm soát.

Trong thí nghiệm, các nhà điều hành trại giống muốn đạt được lợi ích từ việc giảm tỷ lệ tử vong ở tôm giống bố mẹ nên đã cho cả 2 nhóm ăn loại thức ăn tương tự trong giai đoạn cuối cùng. Cả hai nhóm đều nhận được một hỗn hợp khoảng 80% thức ăn tươi và 20% thức ăn viên khô trong giai đoạn II, kéo dài hai tuần của cuộc thử nghiệm.

Component Unit Specifications
Moisture % < 10
  • Crude fiber
% < 4
  • Crude protein
% > 50
  • Crude fat (hydrolysis)
% > 10
Essential Fatty Acids
  • ARA (20:4n-6)
mg/g DW > 1.5
  • EPA (20:5n-3)
mg/g DW > 5
  • DHA (22:6n-3)
mg/g DW > 10
  • n-3 HUFA (>= 20:3n-3)
mg/g DW > 20
  • n-6 PUFA (>= 18:2n-6)
mg/g DW > 10
  • Vitamin C
mg/kg > 3,000
  • Vitamin A
IU/kg > 20,000
  • Vitamin D3
IU/kg > 8,000
  • Vitamin E
mg/kg > 800

 

Bảng 1. hồ sơ dinh dưỡng của chế độ ăn ở tôm giống bố mẹ của INVE

Hình 1. Tỷ lệ tử vong trung bình hàng ngày trong cuộc thử nghiệm 39 ngày với tôm bố mẹ trưởng thành Penaeus vannamei với thức ăn tươi hoặc hỗn hợp các loại thức ăn tươi và khô. Trong hai tuần (giai đoạn II), 2 nhóm nhận được chế độ 80% thức ăn tươi và 20% khô.

Tỷ lệ tử vong

Tỷ lệ tử vong cao sau khi cắt bỏ tôm bố mẹ đánh bắt tự nhiên với tỷ lệ tử vong cao hơn ở con cái là một vấn đề quan trọng trong quá trình sản xuất. Trong giai đoạn I, tôm ăn thức ăn hỗn hợp có tỷ lệ tử vong thấp hơn so với tôm chỉ ăn chế độ ăn tươi sống (Hình 1). Trong giai đoạn II, tỷ lệ tử vong nhìn chung đã giảm và những ảnh hưởng của việc bổ sung thức ăn khô trong khoảng thời gian trước đó vẫn quan trọng.

Giao phối

Tần số giao phối (tỷ lệ hàng ngày con cái được thụ tinh qua thụ tinh nhân tạo hoặc phối giống tự nhiên) là cao hơn đáng kể trong giai đoạn I khi tôm bố mẹ được cho ăn thức ăn tươi (Hình 2). Tỷ lệ thụ tinh tự nhiên là 40-55%. Tuy nhiên trong giai đoạn 2, tỷ lệ con cái được thụ tinh thành công giảm khi được cho ăn thức ăn tươi. Nhìn chung, tỷ lệ giao phối ổn định hơn trong suốt quá trình sản xuất đạt được đối với nhóm được cho ăn thức ăn bổ sung.

Trong giai đoạn I, khả năng sinh sản bình quân của cá cái giống được cho ăn khẩu phần hỗn hợp là 245.000trứng và 135.000ấu trùng/con giống so với 260.000trứng và 152.000ấu trùng/con giống đối với chế độ ăn thức ăn tươi (Hình 3). Sản lượng trứng thấp hơn 9% và số lượng ấu trùng ít hơn 14% (không có sự khác biệt đáng kể) đối với nhóm ăn khẩu phần hỗn hợp.

Tỷ lệ thụ tinh trung bình là 58-60%, tương tự ở cả hai chế độ ăn. Trong giai đoạn II, khả năng sinh sản bình quân vẫn ở mức trung bình so với giai đoạn I (243.000 trứng và 144.000 ấu trùng/con giống).

Thử nghiệm trên tôm trưởng thành P. stylirostris 

Ba cuộc thử nghiệm đã được tiến hành trên tôm P. stylirostris tại Trạm Nuôi trồng thủy sản de Saint-Vincent, một cơ sở IFREMER ở New Caledonia. Con giống cái được thả với tỷ lệ 3con/m2 bể hình tròn đường kính là 4 mét với các điều kiện sinh trưởng phù hợp: nhiệt độ 29-30 độ C, trao đổi nước đạt 50%/ngày và chiếu sáng ngược. Qúa trình cắt bỏ eyestalk được tiến hành.

Treatment Squid Mussels Shrimp Dry Pellet Broodstock Feed
Fresh feed 7.3% 6.1% 2.5% 0.5% 0%
50/50 diet 3.7% 3.1% 1.2% 0.5% 2%

 

Bảng 2- Các chế độ ăn được thử nghiệm trên sự trưởng thành của tôm P. stylirostris (% trọng lượng cơ thể).

Hình 2. Tần số giao phối trong một cuộc thử nghiệm 39 ngày đối với tôm bố mẹ trưởng thành Penaeus vannamei với chế độ thức ăn tươi hoặc hỗn hợp thức ăn tươi và khô. Trong hai tuần qua, cả 2 nhóm đều nhận được 80% thức ăn tươi và 20% khô. Quan sát tạm ngưng trong giai đoạn sản xuất.

Hình 3. khả năng sinh sản trung bình nhóm tôm bố mẹ trưởng thành đẻ trứng trong cuộc thử nghiệm 39 ngày trên tôm Penaeus vannamei cho ăn thức ăn tươi hoặc một hỗn hợp các loại thức ăn tươi và khô.

Chế độ ăn kiểm soát bao gồm 1 hỗn hợp các loại thức ăn tươi sống (mực, sò, tôm) và 1 phần nhỏ thức ăn thương mại khô dạng viên. Trong chế độ thử nghiệm, 50% thức ăn tươi đã được thay thế bởi thức ăn khô dành cho tôm giống bố mẹ INVE (Bảng 2).

Không có sự khác biệt lớn trong hiệu suất tổng thể giữa hai chế độ ăn uống theo ghi nhận trong 18 ngày thử nghiệm (Bảng 3). Tuy nhiên, một số hiệu ứng thú vị đã được phát hiện trong các lần sinh sản tiếp theo. Tỷ lệ thụ tinh và số ấu trùng mỗi đợt sinh sản không khác biệt nhiều giữa các chế độ ăn trong bất kỳ thử nghiệm nào trên toàn cầu, lại giảm trong thí nghiệm 1 khi cho sinh sản tiếp tục với chế độ thức ăn tươi trong khi các thông số này lại được cải thiện với các lần sinh kế tiếp trong chế độ ăn uống hỗn hợp (Hình 4 ).

Parameter Fresh Feed 50/50 Mix
Female Performance
  • Female survival %
60 ± 33 59 ± 18
  • Maturations/month/female
3.2 ± 1.1 3.4 ± 1.4
  • Eggs/female/spawn (x 1,000)
251 ± 57 241 ± 50
  • Fertilization %
55 ± 11 53 ± 14
  • Hatching %
74 ± 16 73 ± 19
  • Nauplii/female/spawn (x 1,000)
112 ± 19 99 ± 20
Nauplii Quality
  • Deformity index (0-5)
4.7 ± 0.2 4.8 ± 0.1
  • Activity index (0-5)
4.7 ± 0.1 4.8 ± 0.1
  • Survival to zoeal in culture (%)
65 ± 8 75 ± 11

 

Bảng 3: hiệu suất trung bình của tôm mẹ và chất lượng ấu trùng của tôm P. stylirostris cho ăn thức ăn tươi hoặc 50% thức ăn tươi kết hợp thức ăn dạng viên. 

Hình 4. Đầu ra của ấu trùng/giống cái/trứng khi đang tiến hành các lần sinh sản tiếp theo (thí nghiệm 1). Tôm bố mẹ P. stylirostris được cho ăn thức ăn tươi hoặc một hỗn hợp các loại thức ăn tươi và khô.

Hình 5. Tỷ lệ sống từ ấu trùng đến zoea 1 trong quá trình sinh sản tiếp theo(thí nghiệm 2). tôm bố mẹ P. stylirostris được cho ăn thức ăn tươi hoặc một hỗn hợp thức ăn tươi và khô.

Mặc dù không có sự khác biệt đáng kể từ giai đoạn ấu trùng lên zoea 1 về tỷ lệ sống, tỷ lệ này giảm mạnh trong tuần cuối cùng của thử nghiệm trên tôm trưởng thành khi áp dụng chế độ thức ăn tươi. Tình trạng này không xảy ra đối với chế độ thức ăn trộn 50/50 (Hình 5). Kết quả này cho thấy việc tăng cường dinh dưỡng được cung cấp bởi thức ăn dạng viên hỗ trợ hoạt động sinh sản bền vững hơn và con cái có chất lượng tốt thông qua sự đẻ trứng lặp đi lặp lại.

Kết luận

Chế độ ăn dành cho con tôm trưởng thành là 1 hỗn hợp thức ăn tươi bổ sung kèm theo thức ăn khô dạng viên giúp làm giảm tỷ lệ tử vong ở tôm P. vannamei đực và cái sau khi được cắt bỏ và còn giúp ổn định tỷ lệ giao phối trong suốt quá trình sản xuất hơn là chế độ chỉ cho ăn thức ăn tươi. Khả năng sinh sản và thụ tinh được ghi chép trong suốt cuộc thử nghiệm cho cả 2 loại thức ăn.

Việc thay thế 50% thức ăn tươi với thức ăn khô cho tôm bố mẹ P. stylirostris dẫn đến tỷ lệ đáp ứng sinh sản của tôm mẹ và chất lượng ấu trùng tương đồng (dị tật, hoạt động, sự sống còn) khi so sánh với tôm ăn khẩu phần kiểm soát. Các chế độ ăn hỗn hợp cũng cải thiện khả năng sinh sản và chất lượng ấu trùng qua sự đẻ trứng lặp đi lặp lại.

Lưu ý: tôm bố mẹ P. stylirostris (không có sọc màu) ăn hỗn hợp 50/50 gồm thức ăn tươi và dạng viên cho ra đời các lứa tôm chất lượng thông qua sự đẻ trứng lặp đi lặp lại.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/che-do-an-uong-hon-hop-cai-thien-hieu-suat-o-tom-bo-me-58e5a726e49519ce4c8b4571.html

Bacillus Probiotics cải thiện chất lượng giống chống EMS tại Mexico

Tóm Tắt

Đầu năm 2014, một thử nghiệm để đánh giá ảnh hưởng của một hỗn hợp của các chủng Bacillus trên hội chứng tử vong sớm do vi khuẩn trong giai đoạn ươm giống và chăn nuôi ở tôm đã được thực hiện tại một trại giống thương mại ở Mexico. Việc thử nghiệm các hỗn hợp vi khuẩn Bacillus trong giai đoạn phát triển ban đầu của ấu trùng qua PL3 mang đến sự cải thiện rõ ràng ở tỷ lệ sống của vật nuôi. Nhìn chung, vào cuối giai đoạn thứ hai tỷ lệ tăng trưởng tăng tới PL15, tiếp tục sử dụng khánh sinh giúp tăng số lượng con giống hậu ấu trùng cũng như kích thước của vật nuôi.

Bacillus Probiotics cải thiện chất lượng giống chống EMS tại Mexico

Tỷ lệ tử vong sớm do hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (EMS/AHPN) bùng phát 1 cách mạnh mẽ gây tác động nghiêm trọng tới các nhà sản xuất tôm giống ở các nước Châu Á và Mexico. Từ các báo cáo chỉ ra rằng tình trạng này có liên quan mật thiết đến việc quản lý đàn giống bố mẹ chẳng hạn như việc cho ăn giun bị ô nhiễm, các nhà quản lý đang tập trung vào việc đổi mới chất lượng ấu trùng.

Đầu tư vào việc nâng cao chất lượng ấu trùng là 1 biện pháp phù hợp cần thiết để tiếp cận toàn diện và đạt được tỷ lệ sản xuất tôm mong muốn thông qua sự kết hợp của các biện pháp an toàn sinh học, thả các con giống hậu ấu trùng khỏe mạnh và quản lý các điều kiện nuôi bằng cách kiểm soát dinh dưỡng/lượng thức ăn, trầm tích, chất lượng nước và các cộng đồng vi sinh vật.

Phương pháp EMS

Tại Mexico, viện nuôi trồng thủy sản INVE đang đánh giá các hoạt động của một chất diệt khuẩn thương mại chứa khuẩn Bacillus để chống lại EMS bằng cách cô lập độc tính của khuẩn Vibrio parahaemolyticus nhờ vào đội ngũ các bác sĩ Bruno Gomez – Gill tại Centro de Investigación en Alimentación y Desarrollo (Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Thức Ăn). Nói một cách cụ thể, một kháng sinh điều chế ra sẽ ức chế sự tăng trưởng của 10 khuẩn gây bệnh Vibrio parahaemolyticus.

Các chủng vi khuẩn Bacillus đã được chọn vì khả năng ức chế mầm bệnh, có hoạt động trao đổi chất trong ruột tôm và nguồn nước tích cực, phân huỷ các chất thải hữu cơ nhanh và cải thiện khả năng tiêu hóa thức ăn.

Việc thực tập chăm sóc con giống để đạt đến một kích thước lớn hơn trước khi thả vào ao nuôi được khuyến khích mạnh mẽ kể từ khi dịch EMS bắt đầu lây sang người. Điều này cũng chưa giải quyết triệt để được vấn đề do EMS/EHPN mang lại. Tuy nhiên, với việc áp dụng các biện pháp an toàn sinh học và cho ăn phù hợp, cũng như việc quản lý nguồn nước, giai đoạn ấp giống này sẽ góp phần cải thiện chất lượng của các con giống hậu ấu trùng. Dù cho là trong ao hay mương, việc tuân theo các quy định về ấp giống đã mang lại hiệu quả, cho phép kiểm soát tốt hơn và ổn định các điều kiện tăng trưởng, thu ngắn chu kỳ vật nuôi và làm tăng số mùa vụ trong năm.

Cách thức tiến hành

Đầu năm 2014, một cuộc thử nghiệm để đánh giá lợi ích của một hỗn hợp chủng vi khuẩn Bacillus trong trang trại nuôi và ấp giống đã được tiến hành trong các điều kiện thương mại tại trại giống Fitmar ở Sinaoa, Mexico. Tỷ lệ con giống sau giai đoạn ấu trùng sản xuất tại đây đã tăng từ 615 triệu trong năm 2010 lên 1.6 tỷ con trong năm 2013.

Trong các trại giống, việc nuôi ấu trùng được chia làm 2 giai đoạn và được xây dựng từ năm 2009. Ở giai đoạn đầu tiên, ấu trùng N5 từ cùng 1 bể đẻ trứng được thả vào 2 ao kiểm soát và 2 ao xử lý ở mật độ 6 triệu con/30 m3. Sau 11 ngày, các con giống hậu giai đoạn ấu trùng P.L 3 hoặc P.L 6 biến thành 2, mương 60-m3 sẽ cho phép con tôm giống phát triển tới mức P.L 15 trong chu kỳ sản xuất 2 giai đoạn. Các chế phẩm vi sinh sẽ được sử dụng trong cả 2 giai đoạn.

Trong giai đoạn đầu tiên, bể nuôi được làm đầy 50% với nước, sau đó là tảo cho đến khi đầy bể. Ở đầu giai đoạn thứ 2, các mương sẽ được đổ đầy nước và không trao đổi nước trong suốt chu kỳ.

Để tăng cường hệ thống miễn dịch của ấu trùng, một sản phẩm thức ăn bổ sung sẽ được cung cấp vào cuối giai đoạn đầu tiên và trong suốt giai đoạn thứ hai. Các chế phẩm sinh học thương mại được cho vào trong các bể kiểm soát và mương kiểm soát. Hỗn hợp khuẩn Bacillus được dùng trong 2 bể xử lý và mương. Hỗn hợp này được sử dụng khi ấu trùng được thả vào bể và con giống hậu ấu trùng được thả trong mương để đạt tới mức độ đậm đặc 5 x 105 cfu/ml.

Trong giai đoạn đầu tiên, hỗn hợp khuẩn Bacillus được cung cấp hằng ngày nhằm đạt được 1 mức độ đậm đặc cuối cùng là 1 x 105 cfu/ml. Ở giai đoạn 2 của quá trình nuôi giống, hỗn hợp như vậy được rải bao quát để đạt mức 1 x 108 cfu/ml.

Kết quả

Việc sử dụng một cách chọn lọc hỗn hợp từ khuẩn Bacillus đã mang đến sự cải thiện rõ rệt tỷ lệ sống. Trong giai đoạn nuôi đầu tiên, tỷ lệ sống tăng từ 32 lên 36% (hình 1)

Cuối giai đoạn 2, sự cải thiện trong tỷ lệ sống dẫn đến việc tăng tỷ lệ tôm có thể được thu hoạch (hình 2). 1.3 triệu con giống hậu ấu trùng đại diện cho tỷ lệ tăng 39% về sản lượng. Hơn thế nữa, hỗn hợp từ khuẩn Bacillus còn giúp cho con giống hậu ấu trùng lớn hơn đến 10% (hình 3).

Hình 1. Sự sống sót của tôm hậu sản sau khi giai đoạn nuôi đầu tiên.

Hình 2. Số lượng tôm hậu sản sau thu hoạch vào cuối giai đoạn 2 nuôi

Hình 3. Trọng lượng ướt trung bình của tôm sau thu hoạch từ mương điều khiển và điều chế.

Các ứng dụng

Cuộc thử nghiệm cho thấy lợi ích của việc sử dụng 1 cách chọn lọc khuẩn Bacillus trong việc chống lại vi khuẩn gây bệnh Vibrio ở cả 2 giai đoạn đầu và sau trong sản xuất ấu trùng. Mặc dù không có số liệu về lượng vi sinh vật trong cuộc thử nghiệm này, một số chỉ số đã được cải thiện: ruột bị nhiễm bịnh, ức chế và làm giảm tác hại của vi khuẩn gây bệnh Vibrios và tăng hệ thống miễn dịch của vật nuôi.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/bacillus-probiotics-cai-thien-chat-luong-giong-chong-ems-tai-mexico-58e5e5b0e49519f2478b4571.html

Trồng 6ha điều, 3ha keo, nuôi 8 bò lai, mỗi năm thu gần 400 triệu

Những năm qua, phong trào “Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi” gắn với xây dựng nông thôn mới được Hội ND xã Cát Lâm, huyện Phù Cát (Bình Định) chú trọng triển khai bằng những việc làm cụ thể.

Trồng 6ha điều, 3ha keo, nuôi 8 bò lai, mỗi năm thu gần 400 triệu

Anh Nguyễn Xuân Ánh, nông dân sản xuất kinh doanh giỏi xã Cát Lâm đang chăm sóc vườn điều.  Ảnh: L.N.T

Phong trào đã phát huy tính năng động, sáng tạo trong lao động, sản xuất của hội viên, nông dân, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao.

Để thúc đẩy phong trào sản xuất kinh doanh giỏi, hàng năm, Hội ND xã Cát Lâm đã chủ động phối hợp các ngành chức năng mở các lớp tập huấn nhằm chuyển giao tiến bộ KHKT cho nông dân; tổ chức tham quan, học tập và xây dựng nhiều mô hình phát triển kinh tế nông nghiệp. Bên cạnh đó, Hội còn làm tốt vai trò cầu nối giữa Ngân hàng Chính sách xã hội với hội viên, tạo điều kiện để bà con tiếp cận được nguồn vốn vay đầu tư phát triển, nhân rộng các mô hình sản xuất, chăn nuôi.

Đến nay, Hội có 6 tổ tiết kiệm vay vốn, với 142 hộ được vay vốn, tổng dư nợ đạt 5,3 tỷ đồng. Nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân với tổng số vốn trên 366 triệu đồng cho 25 hộ vay đầu tư vào chăn nuôi bò lai, lợn sinh sản… Hội vận động nông dân từ sản xuất 3 vụ lúa/năm sang 2 lúa 1 màu đem lại hiệu quả kinh tế cao gấp 2 lần so trồng lúa trước đây. Đến nay, toàn xã có 530 hộ đạt danh hiệu sản xuất kinh doanh giỏi các cấp.

Hộ anh Nguyễn Xuân Ánh, ở thôn Thuận Phong là hộ tiêu biểu làm kinh tế giỏi với mô hình nuôi gà, nuôi bò dưới tán vườn điều. Hiện tại, gia đình anh có trên 6ha điều; 3ha keo lai; 8 con bò lai sinh sản, 50 mái đẻ và nuôi gần 1.000 gà thả vườn/năm. Tổng doanh thu từ trồng trọt, chăn nuôi mỗi năm của gia đình anh Ánh đạt bình quân 380 triệu đồng.

Ông Phan Hồng Chương- Chủ tịch Hội ND xã Cát Lâm cho biết, với phong trào xây dựng nông thôn mới, Hội ND xã Cát Lâm đã tham gia tuyên truyền, vận động nông dân thực hiện thắp sáng 3km điện đường; hiến 1.600m2 đất, đóng góp hơn 75 triệu đồng; góp được 765 ngày công và nhiều tài sản khác để xây dựng 2 tuyến đường giao thông và 1,3km kênh mương nội đồng..

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/trong-6ha-dieu-3ha-keo-nuoi-8-bo-lai-moi-nam-thu-gan-400-trieu-59489dd7e49519cf518b456c.html